- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 - phạm tội trộm cắp tài sản (đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công P và Đỗ Ngọc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 12/2021/HSST Ngày: 15/01/2021 NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Kim Em;
Ông Ngô Hữu Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Loan - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Như Ý - Kiểm sát viên
Trong ngày 15 tháng 01 năm 2021 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 175/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Công P, sinh năm 1992 tại tỉnh A; giới tính: nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 4, xã S, huyện A, tỉnh A; nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/11; con ông Nguyễn Công N, sinh năm 1965 và con bà Hà Thị T, sinh năm 1966; có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1992; Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Bản án số 14/2013/HSST ngày 18/4/2013 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh A xử phạt 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2020. (có mặt)
2. Đỗ Ngọc A, sinh năm 1989 tại tỉnh A; giới tính: nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: ấp TB, xã SB, huyện CĐ, tỉnh BR; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Đỗ Xuân C, sinh năm 1968 và con bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1967; Anh (chị) em ruột: 03 người (lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1991); có vợ là Nguyễn Thị P và có 02 người con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015); Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Bản án số 213/2012/HSST ngày 07/9/2012 của Tòa án nhân dân xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và Bản án số 44/2017/HSST ngày 08/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh ĐN xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2020. (có mặt)
- Bị hại:
1. Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1984; địa chỉ: 15A Đường số 09, phường LM, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
2. Ông Nguyễn DD, sinh năm 1999; địa chỉ: 4A đường LH, phường AL, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Nguyên đơn dân sự: Công ty Cổ phần Tập đoàn Dịch vụ LH; địa chỉ trụ sở: Số 11 đường NC, Khu phố Q, phường BC quận TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp cho Công ty: ông Hồ Văn S– Chức vụ: Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Dịch vụ LH (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp Đ, xã VQ, thị N, tỉnh ST. (vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Hữu D, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp 2 Y, xã BL, huyện XM, tỉnh BR. (có mặt)
3. Ông Đào Huy P; địa chỉ: Ấp 1 xã X, huyện CĐ, tỉnh BR. (vắng mặt)
4. Ông Quách DD Đ, sinh năm 1989; địa chỉ: Số 88/7/14/142 Đường B, khu phố V, phường BL, Quận G, Tp. Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
5. Công ty TNHH Dịch vụ NA; địa chỉ trụ sở: Số 79/ PA, phường BĐ quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp cho Công ty: ông Huỳnh DD Q– Chức vụ: Giám đốc chất lượng Công ty TNHH Dịch vụ NA (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Các bị cáo Nguyễn Công P, Đỗ Ngọc A là bạn bè quen biết với nhau. Do không có tiền tiêu xài nên P điện thoại rủ A đi trộm cắp tài sản. A đồng ý. Trước khi đi, P mang theo 02 thanh kim loại đầu dẹp, 01 cờ lê bằng kim loại, 01 thanh kim loại dùng để mở khóa từ. P, A cùng nhau thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 14 giờ ngày 25/6/2020, A điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 72G1 – 123.45 từ tỉnh BD đến Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tìm tài sản trộm cắp. Khi đến trước công trình xây dựng M7 đường G, phường TP, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện có nhiều xe máy, không có người trông coi nên A điều khiển xe máy chở P vào trong công trình. A đứng cảnh giới, còn P xuống xe, đi đến xe máy hiệu Honda Wave Alpha, biển số 83E1 – 567.89, dùng thanh kim loại (đoản) mang theo sẵn bẻ khóa rồi lên xe, nổ máy chạy ra ngoài. A điều khiển xe máy biển số 72G1 – 123.45 chạy theo. Trên đường đi, A điện thoại liên lạc với người tên H (không rõ lai lịch) để bán xe máy Honda Wave Alpha, biển số 83E1 – 567.89 tại khu vực ngã tư A, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 6.000.000. P, A chia đôi số tiền, mỗi người được 3.000.000 đồng, đã tiêu xài hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 29/6/2020, A điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 72G1 – 123.45 từ tỉnh BD đến Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tìm tài sản trộm cắp. Đến 15 giờ cùng ngày, cả hai phát hiện bên trong công trình xây dựng Sky , đường B, phường M, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều xe máy, không có người trông coi. A điều khiển xe máy chở P chạy vào bên trong công trình. A đứng cảnh giới, còn P xuống xe, đi đến xe máy hiệu Honda Wave Alpha, biển số 50N1 – 888.12, dùng thanh kim loại (đoản) mang theo sẵn bẻ khóa rồi dẫn xe quay đầu hướng ra cổng, lên xe, nổ máy chạy ra ngoài tẩu thoát. A điều khiển xe máy biển số 72G1 – 123.45 chạy theo. Trên đường đi, A điện thoại liên lạc với người tên H (không rõ lai lịch) để bán xe máy hiệu Honda Wave Alpha, biển số 50N1 – 888.12 tại khu vực ngã tư A, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 4.000.000. P, A chia đôi số tiền, mỗi người được 2.000.000 đồng, đã tiêu xài hết.
Ngày 14/7/2020, Đỗ Ngọc A điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 72G1 – 123.45 chở Nguyễn Công P lưu thông trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, có biểu hiện nghi vấn nên bị Cơ quan công an mời về làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, P, A khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Xe máy hiệu Honda Wave Alpha, biển số 83E1 – 567.89 là tài sản bị chiếm đoạt, không thu hồi được. Qua xác minh, xe do bà Huỳnh Thị K (sinh năm: 1986, địa chỉ: Ấp Đ, xã VQ, thị N, tỉnh ST) đứng tên chủ sở hữu. Bà K giao xe cho chồng là ông Nguyễn Thanh N sử dụng. Ngày 19/6/2020, ông N điều khiển xe máy đến công trình xây dựng số 422 Đ, phường PT, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh để làm việc, có lấy thẻ giữ xe. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, ông N ra về thì phát hiện xe máy bị mất trộm nên báo bảo vệ. Công ty Cổ phần Tập đoàn Dịch vụ LH lập biên bản vụ, việc; thỏa thuận đền bù cho ông N số tiền 10.000.000 đồng. Hiện chưa xác định được vì sao xe máy hiệu Honda Wave Alpha, biển số 83E1 – 567.89 có mặt tại công trình xây dựng M7 đường G, phường TP, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo Kết luận định giá tài sản số 389/KL-HĐĐGTTHS ngày 13/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy Ban nhân dân Quận 7: xe máy hiệu Honda Wave Alpha, biển số 83E1 – 567.89, có giá trị là 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng).
Xe máy hiệu Honda Wave Alpha, biển số 50N1 – 888.12 là tài sản bị chiếm đoạt, không thu hồi được. Qua xác minh, xe do ông Nguyễn DD (sinh năm: 1998, địa chỉ: 4A đường LH, phường AL, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 29/6/2020, ông DD điều khiển xe máy đến công trình xây dựng Sky, đường B, phường M, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh làm việc và bị mất trộm.
Theo Kết luận định giá tài sản số 221/KL-HĐĐGTTHS ngày 23/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy Ban nhân dân Quận 7: xe máy hiệu Honda Wave Alpha, biển số 50N1 – 888.12, có giá trị là 14.900.000 đồng (mười bốn triệu chín trăm nghìn đồng).
Tại Bản cáo trạng số 170/CT-VKSQ7 ngày 06/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố các bị cáo Nguyễn Công P và Đỗ Ngọc A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên xử các bị cáo Nguyễn Công P và Đỗ Ngọc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 và điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo P từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo A từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật và ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của các bị cáo.
Các bị cáo khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của mình phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt ở trên, không tự bào chữa, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 7, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, các đương sự trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa kết hợp các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ xét có đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo Nguyễn Công P, Đỗ Ngọc A đồng phạm thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật. Tài sản bị chiếm đoạt gồm: một xe hiệu Honda Wave Alpha, biển số 83E1 – 567.89, có giá trị 11.000.000 đồng của ông Nguyễn Thanh N; một xe máy hiệu Honda Wave Alpha, biển số 50N1 – 888.12, có giá trị 14.900.000 đồng của ông Nguyễn DD. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 25.900.000 đồng. Đây là vụ án đồng phạm có tổ chức, có sự cấu kết chặt chẽ giữa các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó, bị cáo P là người chủ mưu, rủ rê, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo A có vai trò giúp sức tích cực, đứng cảnh giới để P lấy trộm tài sản. Hành vi này của các bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội.
Các bị cáo phạm tội do tham lam tư lợi, lười nhác lao động và đồng thời các bị cáo là người có nhân thân xấu. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xem xét đến nhân thân của các bị cáo để xử lý bằng mức án nghiêm mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách N hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo A, gia đình đã bồi thường một phần thiệt hại, bị hại là anh Nguyễn DD làm đơn bãi nại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách N hình sự: Các bị cáo 02 lần phạm tội Trộm cắp tài sản nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Đối với người tên H, tiêu thụ xe máy do các bị cáo P, A trộm cắp mà có, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an Quận 7 tiếp tục điều tra, xử lý sau.
[6] Xử lý vật chứng vụ án:
Thu giữ của bị cáo Nguyễn Công P:
Một điện thoại di động hiệu Oppo A3S. Bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung Công quỹ Nhà nước.
02 thanh kim loại đầu dẹp, 01 cờ lê bằng kim loại, 01 thanh kim loại dùng để mở khóa từ, 01 áo dài tay, màu ghi. Bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Thu giữ của bị cáo Đỗ Ngọc A:
01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 72G1 – 123.45 là phương tiện A sử dụng chở P đi trộm cắp tài sản. A khai nhận: mua xe của một người tên Hiếu (không rõ lai lịch) với giá 6.000.000 đồng, từ đầu năm 2020, sử dụng đến nay. Qua xác minh, xe do ông Nguyễn Hữu D (sinh năm: 1968, địa chỉ: Ấp 2 Y, xã BL, huyện XM, tỉnh BR) đứng tên chủ sở hữu.
Năm 2016, ông Nguyễn Hữu T (con trai ông D) đem xe cầm cố tại Ấp 2 Y, xã BL, huyện XM, tỉnh BR(không rõ địa chỉ). Sau đó, ông Đào Phương H (là người quen biết với gia đình ông D, sinh năm 1989, địa chỉ: Ấp 1 xã X, huyện CĐ, tỉnh BR) chuộc xe về sử dụng. Xác minh tại Ấp 1 xã X, huyện CĐ, tỉnh BR: ông Đào Phương H có đăng ký hộ khẩu thường trú nhưng bỏ đi đâu không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo tìm kiếm chủ sở hữu. Xét cần tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu một thời gian nếu không tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
+ Một điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen. Bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung Công quỹ Nhà nước.
+ 01 điện thoại di động hiệu Oppo. Bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội nên xét trả lại cho bị cáo.
01 (một) cái túi màu đen; 03 (ba) cái áo công trình, màu xanh, có dạ quang; 01 (một) cái áo công trình, màu kem; 01 (một) cái nón bảo hiểm màu cam, có chữ Aha Move; 01 (một) nón công trình màu vàng; 01 (một) nón công trình màu trắng. Bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về phần trách N dân sự:
Ông Nguyễn Thanh N đã nhận 10.000.000 đồng tiền bồi thường từ Công ty Cổ phần Tập đoàn Dịch vụ LH nên không có yêu cầu gì khác, tại phiên tòa hôm nay vắng mặt nên không xét.
Ông Hồ Văn S (đại diện theo hợp pháp cho nguyên đơn dân sự Công ty Cổ phần Tập đoàn Dịch vụ LH) yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo và ông Sang thỏa thuận bồi thường số tiền trên bằng cách mỗi bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Ông Nguyễn DD đã nhận số tiền 18.000.000 đồng từ gia đình bị cáo Đỗ Ngọc A không có yêu cầu gì khác, tại phiên tòa hôm nay vắng mặt nên không xét.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa gia đình bị cáo Đỗ Ngọc A, bị cáo Anh không có yêu cầu gì đối với số tiền 18.000.000 đồng đã bồi thường cho ông Nguyễn DD nên không xét.
Các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính đã tiêu xài hết cụ thể bị cáo P nộp lại 5.000.000 đồng và bị cáo A nộp lại 2.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
[8] Về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công P và Đỗ Ngọc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 và điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2020.
2. Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc A 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2020.
3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
Một điện thoại di động hiệu Oppo A3S, thu giữ của bị cáo P.
Một điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen thu giữ của bị cáo A.
- Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Oppo cho bị cáo A
- Tịch thu tiêu hủy:
01 (một) cái túi màu đen; 03 (ba) cái áo công trình, màu xanh, có dạ quang; 01 (một) cái áo công trình, màu kem; 01 (một) cái nón bảo hiểm màu cam, có chữ Aha Move; 01 (một) nón công trình màu vàng; 01 (một) nón công trình màu trắng, thu giữ của bị cáo A.
02 thanh kim loại đầu dẹp, 01 cờ lê bằng kim loại, 01 thanh kim loại dùng để mở khóa từ, 01 áo dài tay, màu ghi, thu giữ của bị cáo P.
- Tiếp tục đăng tin tìm chủ sở hữu trong thời gian hai tháng đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 72G1 – 123.45 , nếu tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại, không tìm được thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 17 ngày 26/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính đã tiêu xài hết cụ thể bị cáo P nộp lại 5.000.000 đồng và bị cáo A nộp lại 2.000.000 đồng để sung Công quỹ Nhà nước.
4. Áp dụng Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 30; Khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015:
- Buộc mỗi bị cáo phải bồi thường cho Công ty Cổ phần Tập đoàn Dịch vụ LH số tiền 5.000.000 đồng.
Kể từ ngày Cơ quan Thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án về khoản tiền các bị cáo phải bồi thường nếu các bị cáo chưa thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành.
5. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải nộp là 250.000 đồng.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/01/2021), các bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tp. HCM; THẨM - VKSND Quận 7; - Công an Quận 7; - Chi cục THADS Quận 7; - Sở Tư pháp Quận 7; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu sổ án; - Lưu hồ sơ, | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Chí Hiếu |