vanban.org

Bản án 12/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện An phú, tỉnh An Giang Tuyên án 18/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 21/8/2020). Về xử lý vật chứng: Tịch thu bán hóa giá sung quỹ Nhà nước, một điện thoại hiệu Nokia, màu đen, có gắn kèm theo 02 sim số 0767926915 và 0398771478. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tổ chức xuất cảnh - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 12/2021/HSST
Ngày 18-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phong Phi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Hoàng Nghiệp

Ông Huỳnh Trường Huân

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Đỗ Ngọc Mai Thy – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia

phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 3 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân huyện An Phú, tỉnh

An Giang, Tòa án nhân dân huyện An Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1998, tại An Phú, An Giang, Nơi cư trú: ấp Bình

Di, xã Khánh Bình, huyện An Phú, An Giang. Nghề nghiệp: Mua bán, trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Tiếp, sinh năm 1964 và bà Trần Thị Em, sinh năm 1964 ; anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là người nhỏ nhất. Sống chung như vợ chồng với: Đặng Thị Như Ý đến năm 2020 ly thân; con: Có 01 con sinh năm 2017. Chưa có tiền án, tiền sự. Nhân thân: từ nhỏ sống chung với cha mẹ, tại ấp Bình Di, xã Khánh Bình, huyện An Phú, An Giang. Đi học đến lớp 8 thì nghỉ phụ giúp gia đình. Bị bắt tạm giử, tạm giam từ ngày 21/8/2020 tại Trại tạm giam Công an tỉnh An Giang cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Trương Thị Huyền Trang, sinh năm 1988; cư trú: số 123/21 đường 30/4,

phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Bà Nguyễn Hoàng Kim Trinh, sinh năm 1995; cư trú: số 217/18 đường Bà

Hom, phường 13, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Vương Thị Hồng Đào; sinh năm 1993; cư trú: số 105 đường Chiến Lược,

phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Lê Thị Diệu Thúy, sinh năm 1999; cư trú: số 47/11 đường Lê Trực,

phường 7, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

- Người làm chứng: Ông Đỗ Hữu Thạnh;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/8/2020 Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh An Giang phối hợp với Công an huyện An Phú và Công an xã Khánh Bình tuần tra kiểm soát tuyến biên giới thuộc khu vực ấp Tân Thạnh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú phát hiện Nguyễn Văn H cùng Lê Thị Diệu Thúy, Nguyễn Hoàng Kim Trinh và Vương Thị Hồng Đào mang theo nhiều hành lý có biểu hiện nhập cảnh trái phép nên tiến hành mời về trụ sở Công an xã Khánh Bình. Qua làm việc, H khai nhận được một người tên Mười (không rõ họ tên, địa chỉ) kêu H đón Thúy, Trinh, Đào từ Campuchia nhập cảnh trái phép vào Việt Namm để đưa về thành phố Châu Đốc thì bị phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và tạm giữ H để điều tra xử lý. Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Văn H quen biết với một người tên Võ Thanh Luận (sinh năm 1988, ngụ ấp Bình Di, xã Khánh Bình, huyện An Phú) và Mười (không rõ họ tên, sống ở Campuchia). Khoảng tháng 7/2020, Luận rủ H tham gia vào đường dây đưa người nhập cảnh trái phép từ Campuchia vào Việt Nam, H đồng ý. Ngày 19/8/2020, Võ Thanh Luận kêu H đến khu vực bờ sông gần chùa Linh Ẩn (chùa Ông Năm) thuộc Tân Thạnh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú đón 01 người khách tên Trương Thị Huyền Trang từ Campuchia nhập cảnh trái phép về Việt Nam, H đón Trang đưa lên xe taxi chở khách đến nhà trọ Tấn Phát (thuộc phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc) thì Luận trả cho H 500.000 đồng. Ngày 26/8/2020, Nguyễn Văn H bị khởi tố, điều tra.

Cáo trạng số 06/CT-VKSAG-P1 ngày 21 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại khoản 2 Điều 348 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo biết rõ việc tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép là vi phạm pháp luật mà đặc biệt trong tình hình dịch bệnh Covid diễn biến phức tạp lại vì mục đích vụ lợi mà cố tình thực hiện hành vi phạm tội.

Bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám định kỹ thuật số về dữ liệu điện tử trong điện thoại bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp với lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú được phân công thực hiện quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”; Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 5 đến 6 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Một điện thoại hiệu Nokia, màu đen, có gắn kèm theo 02 sim số 0767926915 và 0398771478. Đây là những vật chứng do H sở hữu và sử dụng để liên lạc, chở người xuất, nhập cảnh trái phép, đề nghị tịch thu.

Buộc bị cáo giao nộp số tiền thu lợi bất chính là 500.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng họ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Xét việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh An Giang, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú và Kiểm sát viên cấp huyện được phân công thực hiện quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét tính chất vụ án:

Bị cáo đứng trước phiên tòa hôm nay là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép trong bối cảnh cả nước đang phải gồng mình phòng chống dịch bệnh Covid-19, Chính phủ phải quyết định hy sinh lợi ích kinh tế của đất nước, phải chi ra những khoản tiền lớn để hỗ trợ cho việc cách ly toàn xã hội, cho người nghèo, người khó khăn, lao động thất nghiệp, doanh nghiệp bị hạn chế và cấm kinh doanh mục đích là để đảm bảo an toàn sức khỏe, tính mạng cho nhân dân, việc cấm xuất cảnh, hay nhập cảnh mục đích là bảo vệ bà con nhân dân nâng cao tinh thần đoàn kết toàn dân tộc trong công tác phòng chống dịch, ngoài ra Ủy ban nhân tỉnh an Giang, Ủy ban nhân dân huyện An Phú hàng ngày, hàng giờ phân công lãnh đạo, cán bộ trực chiến trong công tác phòng chống dịch bệnh, các chiến sĩ dân quân, Bộ đội Biên phòng cùng toàn thể hệ thống chính trị ngày đêm canh gác biên cương để nhằm mục đích phòng chống dịch bệnh lây nhiễm trong cộng đồng. Ngược lại bị cáo là công dân Việt Nam không những không chung tay góp sức bảo vệ Tổ quốc, mà lại có hành vi tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép nhằm thu lợi bất chính cho bản thân, là hành vi nguy hiểm cho toàn xã hội, trái pháp luật hình sự, gây nguy hiểm cho cộng đồng, tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh Covid -19, gây mất an ninh, an toàn biên giới. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú gây mất an ninh trật tự trên địa bàn huyện biên giới, nên cần phải bị xử lý nghiêm để răn đe.

Chính phủ Việt Nam nghiêm cấm bất kỳ ai có hành vi tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép, mọi người, mọi gia đình, mọi tổ chức phải chung tay phòng chống dịch bệnh Covid-19. Dịch bệnh hiện đang diễn biến phức tạp đã làm cho nhiều người tử vong, Đảng, Nhà nước và Ngành Y tế đã cố gắng hết mình hạn chế các ca bệnh tử vong và biến thể của virus Covid-19 ngày càng phức tạp. Do đó mọi người, mọi người dân ở khu vực biên giới cần chung tay cùng Chính phủ, chính quyền địa phương để ngăn chặn việc lây lan dịch bệnh trong cộng đồng, đặc biệt huyện An Phú có địa hình biên giới phức tạp, do đó mọi người dân, mọi cá nhân tổ chức phải biết và có trách nhiệm với cộng đồng để ngăn ngừa dịch bệnh lây lan.

Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú nói riêng, đến trật tự an toàn xã hội nói chung; Vi phạm quy định của Chính phủ về thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh Covid 19, thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên, phạm vào điểm b khoản 2 Điều 348 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xét thấy, cần có mức án nghiêm khắc mới có đủ thời gian cải tạo giáo dục bị cáo nhằm phát huy tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức hình phạt áp dụng:

Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi của mình. Ngoài ra, bị cáo tự thú khai nhận việc tổ chức đưa người khác nhập cảnh ở lần trước. Hội đồng xét xử sẽ xem xét trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi nghị án để quyết định hình phạt phù hợp và phòng ngừa tội phạm.

Tại phiên tòa hôm nay nhận thấy bị cáo chỉ vì mục đích kiếm sống, hoàn cảnh lại khó khăn bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là đủ tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Các vấn đề kiến nghị khác:

Đối với các đối tượng Lê Thị Diệu Thúy, Nguyễn Hoàng Kim Trinh, Vương Thị Hồng Đào, Trương Thị Huyền Trang: Có hành vi “ nhập cảnh trái phép”, chưa có tiền án, tiền sự, do đó chỉ cần xử lý hành chính. Cơ quan An ninh điều tra sẽ chuyển hồ sơ liên quan đến vi phạm của những người này đến Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang để làm thủ tục xử lý vi phạm hành chính theo quy định.

Qua vụ án, cảnh tỉnh những ai có ý định tổ chức cho người khác nhập cảnh và xuất cảnh trái phép trên địa bàn huyện An Phú và các huyện tiếp giáp biên giới khác của tỉnh An Giang một bài học về sự xem thường pháp luật, đề nghị chính quyền địa phương, Công an xã tại các địa bàn biên giới phối hợp tuyên truyền cho bà con nhân dân khu vực biên giới về hành vi phạm tội nếu thực hiện tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép sẽ bị pháp luật trừng trị.

Xử lý vật chứng:

Chấp nhận theo đề nghị của Viện kiểm sát tịch thu sung quỹ: Một điện thoại hiệu Nokia, màu đen, có gắn kèm theo 02 sim số 0767926915 và 0398771478 .

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 348; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 47, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Căn cứ Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 21/8/2020).

Về xử lý vật chứng: Tịch thu bán hóa giá sung quỹ Nhà nước, một điện thoại hiệu Nokia, màu đen, có gắn kèm theo 02 sim số 0767926915 và 0398771478.

Buộc bị cáo giao nộp số tiền thu lợi bất chính là 500.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

(Vật chứng tịch thu theo biên bản giao nhân vật chứng giữa cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh An Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú).

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Thời hạn kháng cáo của bị cáo, của đương sự có mặt hoặc đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/3/2021). Đối với đương sự vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ