- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Nhí Em "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 12/2021/HS-ST Ngày : 27 - 01 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: B Ngu n Th Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký - Thư ký Tòa án nhân dân th nh phố Long Xu ên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Phú Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân th nh phố Long Xu ên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2021/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2021 theo Qu ết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2021 đối với b cáo:
Ngu n Th Nhí E, sinh năm: 1991 tại th nh phố Long Xu ên, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: số 146/2B, khóm Đông An 2, phường M X, th nh phố Long Xu ên, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Mua bán; Quốc t ch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Trần Văn Gốc (chết) và bà Ngu n Th Huệ, sinh năm: 1940; có 06 anh em, b cáo l người thứ 6; b cáo chưa có chồng; có 02 người con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; B tạm giam từ ng 25/12/2020 cho đến na tại Nh tạm giữ Công an th nh phố Long Xu ên, tỉnh An Giang; B cáo có mặt tại phiên tòa.
* B hại: Bà Châu Th Thú H, sinh năm: 1982; Đ a chỉ: Tổ 2, ấp Hòa Phú 2, th trấn An Châu, hu ện Châu Th nh, tỉnh An Giang (vắng mặt).
* Người l m chứng:
+ Ông Ngu n Văn K(vắng mặt);
+ Ông Đinh Văn M(vắng mặt).
NỘI DUNG V N:
Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ng 25 tháng 12 năm 2020, Ngu n Th Nhí E đến sạp bán quần áo của ch Châu Th Thú H ở chợ Cần Xâ , phường Bình Đức, th nh phố Long Xu ên thấ trên bao quần áo có để chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galax A51 m u xanh nên nả sinh ý đ nh chiếm đoạt. Thực hiện ý đ nh n , lợi dụng lúc ch Hằng không chú ý Nhí Em v o lấ trộm điện thoại rồi đi ra khoảng 05m thì b ch Hằng phát hiện tri hô v cùng ông Ngu n Văn Kđuổi theo bắt giữ Nhí Em giao cho Công an phường Bình Đức lập biên bản tiếp nhận người phạm tội quả tang v thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galax A51 màu xanh.
Kết luận về việc xác đ nh giá tr t i sản số 256/KL.HĐ ng 25 tháng 12 năm 2020 của Hội đồng Đ nh giá t i sản trong tố tụng hình sự th nh phố Long Xu ên, xác đ nh: Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galax A51 tr giá 5.332.500 đồng.
Tại Qu ết đ nh tru tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ.VKS ng 14 tháng 01 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Long Xu ên đã tru tố b cáo Ngu n Th Nhí E về tội “Trộm cắp tài sản” theo qu đ nh tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình b nội dung luận tội: Giữ ngu ên nội dung truy tố đối với b cáo Ngu n Th Nhí E. Đề ngh áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt b cáo Ngu n Th Nhí E từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: b hại bà Châu Th Thú H đã nhận lại được t i sản nên không đề ngh xem xét, giải qu ết;
B cáo Ngu n Th Nhí E khai nhận đã thực hiện h nh vi phạm tội như nội dung Qu ết đ nh tru tố, không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát v xin giảm nhẹ hình phạt.
Trong quá trình điều tra, b hại trình b : B hại đã nhận lại được t i sản, không êu cầu gì khác v có đơn bãi nại đề ngh giảm nhẹ hình phạt cho b cáo.
NH N Đ NH CỦA TÒA N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận đ nh như sau:
[1] Về h nh vi, qu ết đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, tru tố đã thực hiện đúng về thẩm qu ền, trình tự, thủ tục qu đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa, b cáo v người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, qu ết đ nh của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, các h nh vi, qu ết đ nh tố tụng của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện đúng qu đ nh pháp luật.
[2] Về tố tụng: Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấ triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa b hại v người l m chứng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, những người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra và thể hiện trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây cản trở cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến h nh xét xử vụ án theo qu đ nh của pháp luật.
[3] Tại phiên tòa, b cáo Ngu n Th Nhí E khai nhận h nh vi phạm tội như nội dung qu ết đ nh tru tố m đại diện Viện kiểm sát đã công bố. Lời khai của b cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của b cáo trong giai đoạn điều tra, tru tố; lời khai của b hại, người l m chứng v các t i liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở xác đ nh, b cáo Ngu n Th Nhí E đã lợi dụng sự sơ hở của b hại trong việc quản lý t i sản đã lén lút, nhanh chóng chiếm đoạt t i sản l 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51, tr giá 5.332.500 đồng.
Do đó, hành vi của b cáo Ngu n Th Nhí E đã đủ ếu tố cấu th nh tội “Trộm cắp t i sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Xét về tính chất, mức độ ngu hiểm của h nh vi phạm tội thì thấ :
Qu ền sở hữu t i sản l một trong những qu ền cơ bản được pháp luật ghi nhận v bảo vệ, mọi h nh vi xâm phạm qu ền sở hữu t i sản của người khác đều b xử lý nghiêm khắc.
B cáo l một phụ nữ trưởng th nh, khỏe mạnh, có đầ đủ năng lực ch u trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ h nh vi chiếm đoạt t i sản của người khác l vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Lẽ ra, b cáo đã có nghề nghiệp ổn đ nh thì phải chí thú l m ăn, tạo thu nhập hợp pháp để nuôi sống bản thân, gia đình v l m người có ích cho xã hội. Thế nhưng, với bản tính tham lam, lười biếng, muốn có tiền tiêu x i m không phải tốn công sức lao động nên b cáo đã lợi dụng sơ hở của b hại lén lút chiếm đoạt t i sản bất hợp pháp giữa nơi đông dân cư điều n cho thấ thái độ xem thường pháp luật của b cáo.
Xét thấ , h nh vi phạm tội của b cáo l ngu hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến qu ền sở hữu t i sản của người khác, gâ mất an ninh trật tự tại đ a phương. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với mức độ, h nh vi phạm tội của b cáo để giáo dục, cải tạo b cáo v phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra v tại phiên tòa hôm na , b cáo tỏ rõ thái độ th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội gâ thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu v thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; b hại xin giảm nhẹ hình phạt cho b cáo. Đâ l các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qu đ nh tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử có xem xét cho b cáo khi qu ết đ nh hình phạt.
B cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do b cáo ho n cảnh kinh tế khó khăn v thu nhập không ổn đ nh nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với b cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: B hại đã nhận lại t i sản v không có êu cầu bồi thường nên không xem xét, giải qu ết.
[8] B cáo phải ch u án phí hình sự sơ thẩm theo qu đ nh pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
Tu ên bố b cáo Ngu n Th Nhí E phạm tội: “Trộm cắp t i sản”;
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủ ban thường vụ Quốc Hội qu đ nh về mức thu, mi n, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
[1] Xử phạt: B cáo Ngu n Th Nhí E 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2020.
[2] Về án phí: Buộc b cáo phải ch u 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Về qu ền kháng cáo: B cáo được qu ền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ng kể từ ng tu ên án.
B hại được qu ền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ng kể từ ng nhận được bản án hoặc bản án được niêm ết.
Trường hợp bản án, qu ết đ nh được thi h nh theo qu đ nh tại Điều 2 Luật Thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự có qu ền thỏa thuận thi h nh án, qu ền êu cầu thi h nh án, tự ngu ện thi h nh án hoặc b cưỡng chế thi h nh án theo qu đ nh tại các Điều 6, 7 v Điều 9 Luật Thi h nh án dân sự; thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo qu đ nh tại Điều 30 Luật Thi h nh án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP Long Xuyên (2); - VKSND tỉnh An Giang (1); - Phòng KTNV - TAND tỉnh An Giang(1); - Sở Tư pháp (1); - Nh tạm giữ (2); - Chi cục THADS TP Long Xu ên (1); - B cáo; - Đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu Văn phòng. | TH M PH N – CHỦ T A PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Dung |