vanban.org

Bản án 12/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 04/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Thị PA phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt bị cáo Đinh Thị PA 13 (mười ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Thị PA phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Thị PA phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2021/HS-ST
Ngày 04 - 5 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NG VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tông

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị An Tiên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Hùng

Ông Phan Minh Tùng

Bà Lê Thị Kim Oanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Anh Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Đinh Thị PA, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1987 tại tỉnh Bến Tre; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp PTT, xã QS, huyện CT, tỉnh Bến Tre; nơi cư trú hiện nay: Khu phố Nội Ô A, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn C và bà Nguyễn Thanh T; có chồng là Nguyễn Đăng K (đã ly hôn) và 03 người con; tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt, tạm giam ngày 30/9/2020 cho đến nay (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Việt Hoàng N – Văn phòng luật sư N, Đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh (có mặt).

- Bị hại:

+ Chị Nguyễn Hồng Ng, sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp Phước Hội A, xã

Phước Thạnh, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

+ Chị Nguyễn Đào Nhật Ph, sinh năm 1986; đại chỉ: Âp PTT, xã QS,

huyện CT, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, Ng vụ liên quan: Anh Nguyễn Đăng Kh, sinh năm

1984; địa chỉ: Khu phố A, thị trấn G, huyện GD, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại

phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu năm 2014, biết chị Nguyễn Hồng Ng, sinh năm 1982, ngụ ấp

Phước Hội A, xã Phước Thạnh, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh có ý định muốn sang Mỹ định cư nên Đinh Thị PA nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị Ng để chữa bệnh cho ông Đinh Văn Châu là cha của PA. PA nói dối với chị Ng là có người thân định cư ở Mỹ và sẽ làm được hồ sơ cho chị Ng sang Mỹ định cư. PA yêu cầu chị Ng đưa các loại giấy tờ tùy thân và chuyển trước 250.000.000 đồng để làm hồ sơ, còn thiếu bao nhiêu những người thân của PA ở Mỹ sẽ trả trước. Chị Ng tin PA và đã chuyển qua đường bưu điện cho ông Đinh Văn Châu 250.000.000 đồng. Từ thời điểm đó, khi ông Châu cần tiền chữa bệnh thì PA yêu cầu chị Ng tiếp tục đưa tiền để làm hồ sơ như tiền bảo hiểm, tiền mua nhà, tiền khám sức khỏe,…Chị Ng giao tiền cho PA nhiều lần tại khu nhà ở tập thể Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Gò Dầu không làm giấy tờ, không có người chứng kiến. Nguồn tiền có được do chị Ng vay người thân, vay Ngân hàng và mượn chị Nguyễn Thị Mỹ Linh, em ruột chị Ng, sống tại Đài Loan chuyển về, trong đó có một lần vào năm 2017, chị Mỹ Linh chuyển trực tiếp về cho PA số tiền 2.500 USD tương ứng là 56.817.500 đồng. Đến tháng 01 năm 2020, chị Ng nghi ngờ PA lừa để lấy tiền nên yêu cầu PA giao hồ sơ để Ng tin, PA tìm trên mạng Internet các biểu mẫu hồ sơ định cư tại Mỹ rồi đến tiệm phôtô tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh chèn thông tin cá nhân của chị Ng vào các biểu mẫu và in màu với giá 4.000.000 đồng, đem về giao cho chị Ng. Chị Ng tìm hiểu biết các biểu mẫu hồ sơ PA giao không phải hồ sơ cho Ng sang Mỹ định cư nên ngày 19/01/2020, chị Ng yêu cầu PA viết giấy nhận tiền giúp Ng định cư ở Mỹ là 2,5 tỷ đồng, hứa đến 30/4/2020 sẽ trả lại cho chị Ng. Ngày 22/01/2020, chị Ng làm đơn tố cáo PA. Quá trình điều tra, chứng minh số tiền PA chiếm đoạt của chị Ng là 1.697.817.500 đồng.

Ngoài ra, với thủ đoạn trên, khoảng năm 2016, PA nói dối với chị Nguyễn

Đào Nhật Ph, sinh năm 1986, ngụ ấp PTT, xã QS, huyện CT, tỉnh Bến Tre sẽ làm được hồ sơ giúp chị Ph sang Mỹ định cư, chi phí là 20.000 USD. Chị Ph mượn tiền của bà Châu Thị T, sinh năm 1954, định cư tại Mỹ, nhờ bà T chuyển tiền về cho PA. Tháng 3 năm 2016, bà T đã gửi về cho PA 12.500 USD tương đương với 278.787.500 đồng. Đến năm 2017, chị Ph phát hiện PA lừa dối nên thuê Công ty Đ tại Thành phố Hồ Chí Minh đòi nợ và PA đã trả đủ tiền cho chị Ph.

- Kết luận giám định số 576/KL-KTHS ngày 29/4/2020 của Phòng kỹ thuật

hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Chữ viết trên 02 tờ giấy tập học sinh có nội dung “hứa hẹn giúp Ng làm hồ sơ định cư ở Mỹ và “hứa hẹn trả lại 2.500.000.000 đồng vào ngày 30/4/2020” với chữ viết trên Bản tự khai của Đinh Thị PA là do cùng một người viết ra.

- Tỷ giá quy đổi vào tháng 3/2016: 01 đô la Mỹ (01 USD) là 22.303 đồng;

Tỷ giá quy đổi vào ngày 21/7/2017, ngày 26/7/2017: 01 đô la Mỹ (01 USD) là 22.735 đồng; ngày 04/12/2017: 01 đô la Mỹ (01 USD) là 22.715 đồng.

- Về kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: có bảng thống kê kèm theo.

- Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Hồng Ng yêu cầu Đinh Thị PA bồi

thường số tiền 2.049.000.000 đồng nhưng anh Nguyễn Đăng Kh (chồng PA) mới bồi thường cho Nguyễn Hồng Ng 10.000.000 đồng.

- Về kê biên tài sản: Đinh Thị PA không có tài sản riêng nên không tiến

hành kê biên tài sản.

Trong quá trình điều tra, Đinh Thị PA khai nhận hành vi phạm tội như đã

nêu trên nhưng chỉ thừa nhận chiếm đoạt của Nguyễn Hồng Ng số tiền 513.817.500 đồng. Và thừa nhận chiếm đoạt của chị Nguyễn Đào Nhật Ph số tiền 278.787.500 đồng.

- Tại Bản cáo trạng số 02/CT-VKS-P3 ngày 24 tháng 3 năm 2021 của Viện

kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Đinh Thị PA về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh

luận: Giữ nguyên Bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Đinh Thị PA; đề nghị tuyên bố bị cáo Đinh Thị PA phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"; áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Thị PA từ 10 đến 12 năm tù; xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu hồ sơ 01 đĩa DVD có chứa nội dung 10 đoạn video được trích xuất từ điện thoại Iphone6 của chị Nguyễn Hồng Ng, tịch thu điện thoại di động và vàng giả tiêu hủy; về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo bồi thường cho chị Ng số tiền 1.687.817.500 đồng.

-Ý kiến của người bào chữa: Về động cơ, mục đích phạm tội là do cha bị cáo

bị bệnh hiểm nghèo, cần tiền trị bệnh nên đã lừa đảo bị hại dẫn đến phạm tội; bị cáo bị cha, mẹ ruột bỏ rơi nên làm con nuôi; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; về bồi thường đề nghị xem xét theo quy định của pháp luật; về hình phạt, đề nghị áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin lỗi bị hại, bị cáo rất ăn năn hối lỗi,

xin có mức án nhẹ để sớm đoàn tụ gia đình, nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện

Gò Dầu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Từ năm 2014 đến năm 2017, Đinh Thị PA đã dùng thủ đoạn gian dối nói

có người thân ở Mỹ hứa hẹn giúp làm hồ sơ sang Mỹ định cư để chiếm đoạt tiền của chị Nguyễn Hồng Ng và chị Nguyễn Đào Nhật Ph. Trong đó:

- Chị Nguyễn Hồng Ng cung cấp chứng cứ là 01 giấy nhận tiền do bị cáo viết

và ký tên, nội dung ghi đã nhận của chị Ng số tiền 2.500.000.000 đồng, hẹn đến này 30/4/2020 trả cho chị Ng, nhưng chị Ng và bị cáo đều không thừa nhận đã giao nhận cho nhau đến số tiền 2.500.000.000 đồng. Chị Ng chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.049.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra, bị cáo Đinh Thị PA đã thừa nhận

tại Biên bản đối chất ngày 18/10/2020 (BL 289, 290), bị cáo thừa nhận đã nhận của chị Ng số tiền 746.000.000 đồng (cụ thể: 01 lần 250 triệu đồng; 01 lần 90 triệu đồng; 01 lần 80 triệu đồng; 02 lần 60 triệu đồng; 01 lần 50 triệu đồng; 03 lần 30 triệu đồng; 01 lần 15 triệu đồng; 01 lần 14 triệu đồng; 03 lần 10 triệu đồng; 01 lần 7 triệu đồng).

Tại Biên bản hỏi cung bị can ngày 05/01/2021 (BL 411, 412); bị cáo thừa

nhận đã nhận từ người tên Nguyễn Thị Mỹ Linh từ Đoài Loan gửi trực tiếp cho bị cáo số tiền 2.500 USD, quy đổi theo tỷ giá tại thời điểm nhận tiền là 56.817.500 đồng.

Cáo trạng truy tố bị cáo Đinh Thị PA chiếm đoạt số tiền của chị Ng tổng cộng

1.697.817.500 đồng. Trong đó, bị cáo thừa nhận đã nhận từ người tên Nguyễn Thị Mỹ Linh từ Đoài Loan gửi trực tiếp cho bị cáo số tiền 2.500 USD, quy đổi theo tỷ giá tại thời điểm nhận tiền là 56.817.500 đồng, còn lại số tiền 1.641.000.000 đồng là số tiền chị Ng chứng minh là chị Ng có được từ người khác chuyển cho chị Ng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đinh Thị PA chấp nhận bồi thường cho chị Ng

số tiền 1.697.817.500 đồng như Bản Cáo trạng đã truy tố. Chị Ng yêu cầu bồi thường 2.049.000.000 đồng, số tiền bị cáo không nhận bồi thường là 351.182.500 đồng thì chị Ng không cung cấp được chứng cứ đã giao cho bị cáo và cũng không cung cấp được chứng cứ chị Ng có được từ nguồn nào.

Do đó, Hội đồng xét xử xác định bị cáo Đinh Thị PA đã chiếm đoạt của chị

Nguyễn Hồng Ng số tiền 1.697.817.500 đồng.

- Chị Nguyễn Đào Nhật Ph đã giao cho bị cáo Đinh Thị PA 12.500 USD

tương ứng với số tiền 278.787.500 đồng.

Như vậy, bị cáo Đinh Thị PA đã chiếm đoạt tổng cộng 1.973.602.000 đồng

của bị hại Nguyễn Hồng Ng, bị hại Nguyễn Đào Nhật Ph.

Hành vi bị cáo Đinh Thị PA thực hiện nêu trên là nguy hiểm cho xã hội,

xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo đã gian dối hứa hẹn giúp bị hại sang Mỹ đinh cư nhưng không có thực hiện nhằm chiếm đoạt số tiền 1.973.602.000 đồng của bị hại Nguyễn Hồng Ng và bị hại Nguyễn Đào Nhật Ph. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự cho bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 2 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản

1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; tự thú; tự

nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả. Các tình tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là áp dụng đối với hành vi bị cáo đã chiếm đoạt số tiền của chị Nguyễn Đào Nhật Ph.

Người bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo phạm tội do cha bị bệnh hiểm

nghèo nhưng tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận số tiền chi phí điều trị cho cha của bị cáo khoảng từ 500.000.000 đồng, đáng lẽ ra khi nhận của bị hại đến 500.000.000 đồng thì dừng lại nhưng bị cáo vẫn tiếp tục chiếm đoạt thêm, đến khi cha bị cáo chết ngày 02/6/2017, sau đó bị cáo vẫn tiếp tục chiếm đoạt thêm 2.500 USD do chị Linh em ruột chị Ng chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản của bị cáo (vào ngày 21/7, 26/7 và 02/12/2017).

Do bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Xử lý vật chứng:

Hoàn trả cho bị cáo Đinh Thị PA tài sản không có liên quan đến việc thực

hiện tội phạm nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Về bồi thường thiệt hại:

Bi cáo Đinh Thị PA phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Hồng Ng số tiền

1.697.817.500 đồng. Ghi nhận anh Nguyễn Đăng Kh đã nộp số tiền 10.000.000 đồng bồi thường, chị Ng đã nhận nên bị cáo còn phải bồi thường 1.687.817.500 đồng (một tỷ, sáu trăm tám mươi bảy triệu, tám trăm mười bảy ngàn, năm trăm đồng).

Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho chị Nguyễn Đào Nhật Ph số tiền

278.787.500 đồng.

Về án phí: Bị cáo Đinh Thị PA phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ

thẩm và 62.634.525 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đinh Thị PA phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g

khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đinh Thị PA 13 (mười ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày

30/9/2020.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

3. Việc bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ

luật Dân sự.

Bị cáo Đinh Thị PA bồi thường cho chị Nguyễn Hồng Ng số tiền

1.697.817.500 đồng. Ghi nhận gia đình bị cáo đã bồi thường 10.000.000 đồng, bị cáo còn phải bồi thường 1.687.817.500 đồng (một tỷ, sáu trăm tám mươi bảy triệu, tám trăm mười bảy ngàn, năm trăm đồng).

Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho chị Nguyễn Đào Nhật Ph số tiền

278.787.500 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với

các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 48

Bộ luật Hình sự.

Hoàn trả chi bị cáo Đinh Thị PA:

- 01 điện thoại di động Nokia, màu đen, số sêri: 352892104394642.

- 01 gói niêm phong có chữ ký xác nhận của bị can Đinh Thị PA, bên trong

có một số nữ trang là vàng giả, gồm:

+ 02 nhẫn kim loại màu vàng, có đính nhiều hột màu trắng sáng.

+ 01 nhẫn kim loại màu vàng, có chữ tiếng Trung Quốc.

+ 04 nhẫn trơn bằng kim loại màu vàng.

+ 02 nhẫn kim loại màu trắng, có đính nhiều hột màu trắng sáng.

+ 01 mặt dây chuyền màu vàng, có đính nhiều hột màu trắng sáng.

+ 03 mặt dây chuyền kim loại màu trắng, có đính nhiều hột màu trắng sáng

và có hình bông hoa.

+ 01 mặt dây chuyền kim loại màu trắng, có đính nhiều hột màu trắng.

+ 01 lắc đeo tay kim loại màu vàng, hình mắc xích, dài 16 cm.

+ 01 lắc đeo tay kim loại màu vàng, hình mắc xích, dài 17 cm.

+ 02 lắc đeo tay kim loại màu vàng, hình bông hoa, mỗi sợi dài 20 cm.

+ 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng, hình mắc xích, dài 45 cm.

+ 02 sợi dây chuyền kim loại màu trắng hình tròn móc với nhau, mỗi sợi dài

45 cm.

+ 01 đồng hồ đeo tay kim loại màu trắng, hiệu Fossil.

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh tiếp tục tạm giữ tài sản trên để bảo

đảm thi hành án.

5. Về án phí: Bị cáo Đinh Thị PA phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ

thẩm và 62.634.525 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi

và Ng vụ liên quan biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ