- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn S Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội: Cướp tài sản
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2021/HS-ST Ngày: 30-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tùng Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Kim Bảng
Ông Quách Minh Nhiên
Bà Lò Thị Khánh Quốc
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Thêu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Hòa Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Xuân Khôi - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ L 05/2021/TLHS - ST ngày 03 tháng 02 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 11/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Phạm Văn S, sinh ngày 24/12/1977 tại Hòa Bình;
Nơi ĐKHKTT: thôn Liên Hồng 1, xã Khoan D, huyện Lạc T, tỉnh HB; Dân
tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tôn giáo: không.
Con ông: Phạm Thế D1và bà Đỗ Thị N (đã chết); Chưa có vợ con; Bị cáo
là con duy nhất trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/11/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm
giam Công an tỉnh HB. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Ngọc Quang - Văn phòng luật sư
Lỗ Hữu Thạch thuộc đoàn Luật sư tỉnh HB. Có mặt
- Bị hại: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam; địa
chỉ: số 02 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Bùi Thị L - Giám đốc Phòng Giao dịch Vũ
Lâm trực thuộc Ngân hàng Agribank chi nhánh huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Đỗ Việt D2, sinh năm 1967; trú tại: phố Tân Giang, thị trấn Vụ
Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
2. Chị Bùi Thị H, sinh năm 1981; trú tại: xóm Đoàn Kết II, xã Quang
Tiến, thành phố HB1, tỉnh HB. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Chị Trần Thị Huyền, sinh năm 1982; trú tại: phố Độc Lập, thị trấn Vụ
Bản, huyện Lạc S, tỉnh HB. Có mặt.
2. Anh Phạm Hùng, sinh năm 1991; trú tại: xóm Ngã Ba, xã Xuất Hóa,
huyện Lạc S, tỉnh HB. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 26/10/2020 Phạm Văn S, sinh năm 1977; trú tại: thôn Liên Hồng 1, xã Khoan Dụ, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave HONDA BKS 28B1- 007.56 của anh Đỗ Việt D2, sinh năm 1967 trú tại phố Tân Giang, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình để đi đến phòng giao dịch Vũ Lâm thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thông Việt Nam chi nhánh Lạc S, HB (Agribank Lạc Sơn); địa chỉ tại phố Lâm Hóa 1, xã Vũ Bình, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình với mục đích để hỏi về thông tin tài khoản của chị Bùi Thị Hòa, sinh năm 1981 trú tại: xóm Đoàn Kết II, xã Quang Tiến, thành phố HB1,tỉnh HB (Chị H sống như vợ chồng với S nhưng không đăng ký kết hôn).
Khi đến quầy giao dịch, S đi vào trong và nhìn thấy nhiều tiền đang được nhân viên ngân hàng kiểm đếm nên nảy sinh ý định cướp tiền của ngân hàng. Để thực hiện ý định của mình, S quay về nhà anh Dũng và tại đây đồng thời tiến hành chuẩn bị một chiếc áo mưa chùm, 01 chiếc mũ bảo hiểm, 01 khẩu súng nhựa đồ chơi bắn đạn bi, 01 túi nilon màu đen và 03 khẩu trang dùng để che mặt và biển kiểm soát của xe máy. Sau khi đã chuẩn bị xong, khoảng 15 giờ ngày 28/10/2020, S tiếp tục lấy xe máy BKS: 28B1- 007.56 của anh Dũng đi đến phòng giao dịch Vũ Lâm, nhưng khi đến nơi thấy trong phòng giao dịch đang có đông người, sợ bị phát hiện nên S đi về nhà anh Đinh Khánh H1, sinh năm 1975, trú tại: khu phố Thanh Bình, thị trấn Hàng Trạm, huyện Yên Th, tỉnh HB ngủ nhờ qua đêm đợi cơ hội hôm sau. Khoảng 8 giờ ngày 29/10/2020 S đeo khẩu trang, bịt biển số xe máy, đội mũ bảo hiểm, mặc áo mưa, để súng nhựa bắn đạn bi vào trong túi quần bên phải và cho nilon vào túi áo khoác bên trái rồi đi về hướng thị trấn Vụ Bản. Khi đi đến phòng giao dịch Vũ Lâm, S điều khiển xe máy đi lại nhiều lần. Sau đó dừng đỗ vào lề đường bên phải hướng Yên Thủy - Thị trấn Vụ Bản đối diện phòng giao dịch để quán sát. Đến 11 giờ 37 phút cùng ngày, khi thấy khách hàng đến giao dịch đã đi về, chỉ có hai nhân viên ngân hàng là chị Trần Thị H3, sinh năm 1982, trú tại: phố Độc Lập, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc S, tỉnh HB và anh Phạm H4, sinh năm 1991; trú tại xóm Ngã Ba, xã Xuất Hóa, huyện Lạc S, tỉnh HB đang còn làm việc nên S điều khiển xe máy dựng ở sân trước cửa phòng giao dịch ngân hàng và đi vào trong quầy giao dịch đồng thời tiếp cận gần sát với anh Hùng và chị H3, sau đó tay trái lấy túi nilon đặt lên mặt quầy và tay phải rút khẩu súng bắt đạn bi giơ lên, chĩa về phía chị Huyền và anh Hùng đe dọa và nói “ tất cả ngồi yên, đưa tiền vào đây”. Do hoảng sợ và bị bất ngờ nên anh Hùng nói “Anh muốn lấy tiền à”, đồng thời nhấc chiếc giỏ nhựa đang đựng số tiền 200.772.000 đồng (Hai trăm triệu, bảy trăm bảy mươi hai nghìn) gồm nhiều mệnh giá khác nhau đưa lên mặt quầy, S yêu cầu cả hai người đi vào phòng bên trong và đóng cửa lại. Sau đó S bốc tiền cùng giỏ nhựa đựng tiền cho vào túi nilon rồi tẩu thoát ra ngoài đi về hướng thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Sau khi chiếm đoạt được số tiền trên, S đi về nhà anh Đỗ Việt D2 ở thị trấn Vụ Bản, vứt bỏ khẩu trang, cởi bỏ áo mưa, mũ bảo hiểm, còn khẩu súng nhựa S bẻ ra thành nhiều mảnh vứt ra vườn phía sau nhà. Sau đó, S lấy khoảng 70.000.000 đồng cho vào hộp cát tông cùng chiếc áo khoác của S gửi xe buýt về thành phố Hòa Bình cho chị Bùi Thị H chi tiêu và trả nợ, đồng thời S lấy khoảng hơn 10.000.000 đồng cho vào túi quần để chi tiêu cá nhân. Số tiền còn lại S cất giấu trên nóc bể chứa nước của nhà anh D2. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, S điều khiển xe máy BKS: 28B1- 007.56 về thành phố HB, khi đi đến cầu Đông Lai I, thuộc địa phận xóm Quê Bái, xã Đông Lai, huyện Tân L, tỉnh HB thì S dừng đỗ xe và vứt chiếc mũ bảo hiểm xuống suối dưới gầm cầu rồi về nhà chị Hòa ở tổ 8, phường Kỳ Sơn, thành phố HB1, tỉnh HB. Khi thấy S đi về chị Hòa có hỏi về nguồn gốc số tiền nhưng S không nói gì, sau đó S bỏ trốn đến ngày 03/11/2020 thì bị bắt, Theo lời khai của S cơ quan điều tra đã tiền hành tìm kiếm và thu giữ toàn bộ tang vật.
Tại bản kết luận giám định số 8391/C09-P3 ngày 01/12/2020 của Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận: mẫu vật ký hiệu A1, A2, A3 gửi giám định là các bộ phận của súng bắn đạn bi, loại súng này thuộc đồ chơi nguy hiểm bị cấm, không thuộc vũ khí. Hiện các bộ phận này bị hỏng nên không lắp được khẩu súng hoàn chỉnh, không sử dụng để bắn được.
Về vật chứng: Tại quá trình điều tra cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ và xử L một số vật chứng:
- Trả lại cho chị Bùi Thị H 01 điện thoại di di động nhãn hiệu Oppo; 01 điện thoại di động Samsung; 01 áo khoác màu đen
- Trả lại cho bà Bùi Thị L, đại diện phòng giao dịch Vũ Lâm thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lạc S, HB số tiền: 182.050.000 đồng và 02 tay nắm cửa bên trái.
Đối với các vật chứng: 01 áo khoác nam; 01 xe máy; 01 mũ bảo hiểm; 01 áo mưa chùm; 01 giỏ nhựa; 05 miếng nhựa hình thù không xác định. Được chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình để phục vụ công tác xét xử.
Về trách nhiệm dân sự: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, đại diện là phòng giao dịch Vũ Lâm yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 18.722.000 đồng.
Cáo trạng số 06/CT-VKS-P2 ngày 28/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Phạm Văn S về tội: Cướp tài sản theo điểm a khoản 3 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình giữ quyền công tố tại phiên tòa nêu tóm tắt nội dung vụ án và giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích, đánh giá hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 168, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn S từ 14 đến 15 năm tù. Về trách nhiệm dân sự và xử L vật chứng đề nghị xử L theo quy định của pháp luật.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa nêu quan điểm: Luật sư nhất trí với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo về tội Cướp tài sản là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự; thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; có bố đẻ là ông Phạm Thế D được tặng thưởng nhiều huân huy chương và bằng khen kháng chiến chống Mỹ. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thất nhất.
Bị cáo Phạm Văn S không bào chữa bổ sung và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ và quá trình thẩm tra tranh tụng tại phiên
tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ
vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Hòa Bình; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, bị hại, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ
thẩm bị cáo Phạm Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng,người liên quan, kết luận giám định và lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra vụ án cùng toàn bộ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Để có tiền chi tiêu cá nhân và trả nợ bị cáo Phạm Văn S đã chuẩn bị xe máy, súng bắn bi, áo mưa, mũ bảo hiểm để tiếp cận phòng giao dịch Vũ Lâm thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Lạc S, dùng súng bắn đạn bi uy hiếp hai nhân viên ngân hàng buộc họ phải đưa toàn bộ số tiền trong quần giao dịch cho S. Hai nhân viên ngân hàng do hoảng loạn và sợ nguy hiểm đến tính mạng đã đưa toàn bộ số tiền 200.772.000 đồng trong giỏ nhựa cho S. S cho tiền vào túi nilon rồi tẩu thoát. Hành vi nêu trên của Phạm Văn S đã phạm tội Cướp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 168 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh hòa Bình truy tố bị cáo Phạm Văn S là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo
Phạm Văn S là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người có nhận thức, có hiểu biết, nhận thức rõ hành chiếm đoạt tài sản một cách bất hợp pháp là vi phạm pháp luật. Song vì nhu cầu của bản thân bị cáo đã chuẩn bị công cụ phương tiện, dùng súng bắn đạn bi uy hiếp, đe dọa hai nhân viên ngân hàng, khiến họ rơi vào tình trạng hoảng loạn bị tê liệt liệt về ý trí không thể chống cự được hòng chiếm đoạt số tiền 200.772.000 đồng. Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, mà còn đe dọa đến tâm L và sức khỏe của người khác, gây tâm L hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, cần phải có một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo thực hiện, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Quá trình nghị án, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội không có
tình tiết tăng nặng. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố bị cáo là ông Phạm Thế D được tặng thưởng nhiều huân, huy chương và bằng khen kháng chiến chống Mỹ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo khi lượng hình.
Xét lời bào chữa của luật sư đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự cho bị cáo là có căn cứ được Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại - Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - đại diện là phòng giao dịch Vũ Lâm yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 18.722.000 đồng. Xét đây là yêu cầu chính đáng cần buộc bị cáo phải bồi thường.
Đối với đối tượng có liên quan:
- Đối với Bùi Thị H là người nhận 70.000.000 đồng từ Phạm Văn S. Quá trình điều tra xác định Bùi Thị H không trao đổi, bàn bạc với Phạm Văn S về việc cướp tài sản, khi nhận tiền không biết được nguồn gốc số tiền. Do đó không đề cập xử L.
- Đối với Đỗ Việt D2 là người cho Phạm Văn S mượn chiếc xe mô tô BKS: 28B1- 007.56. Quá trình điều tra xác định D2 không liên quan đến hành vi cướp tài sản của Phạm Văn S. Do đó không đề cập xử L.
Về vật chứng: 01 áo khoác nam; 01 mũ bảo hiểm; 01 áo mưa chùm; 01
giỏ nhựa; 05 miếng nhựa hình thù không xác định: xét những vật chứng này không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE 110 màu đen đỏ BKS:
28B1-007.56. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này là của chị Nguyễn Thị H5, sinh năm 1974; địa chỉ: xóm Bôi Cả, xã Nam Thượng, huyện Kim B, tỉnh Hb. Chị H5 xác định đã cho anh Đỗ Việt D2 chiếc xe này và không có nhu cầu đòi lại, quyền quyết định chiếc xe là do anh D2, chị đề nghị không tham gia tố tụng. Như vậy xác định chủ sở hữu chiếc xe là của anh Đỗ Việt D2 cần trả lại chiếc xe này cho anh Đỗ Việt D2.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội: Cướp tài sản
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 168; điểm s
khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ
ngày tạm giữ 03/11/2020.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589
Buộc bị cáo Phạm Văn S phải bồi thường cho Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam; địa chỉ: số 02 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố HN số tiền: 18.722.000 (Mười tám triệu, bảy trăm hai mươi hai nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu
thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản thềm lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về xử L vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106
Bộ luật tố tụng hình sự:
* Trả lại cho anh Đỗ Việt D2, sinh năm 1967; trú tại: phố Tân Giang, thị
trấn Vụ Bản, huyện Lạc S, tỉnh HB.
01(một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE 110 màu đen đỏ gắn biển kiểm
soát 28B1-007.56 xe đã cũ và đã qua sử dụng không tiến hành kiểm tra bộ phận chi tiết bên trong xe.
*. Tịch thu tiêu hủy:
1.(một) hộp niêm phong bằng xốp biển màu trắng còn nguyên vẹn một mặt
có đề chữ: “ vật chứng vụ án cướp tài sản xảy ra ngày 29/10/2020 tại phòng giao dịch Vũ Lâm thuộc Ngân hàng NN&PTNT VN chi nhánh Lạc Sơn địa chỉ: xã Vũ Bình, huyện Lạc S, HB. 1/ 01(một) chiếc áo khoác nam màu đen mặt trước có chữ PEAK. 2/ 01(một) mũ bảo hiểm loại ¾ đầu màu đỏ trắng có kính chắn gió, phía trước sau mũ có chữ HJC HELMETS. 3/ 01(một) áo mưa chùm màu trắng tím. 04/01(một) giỏ nhựa màu đỏ. Vật chứng thuộc vụ án: Phạm Văn S phạm tội cướp tài sản xảy ra ngày 29/10/2020 tại PGD Vũ Lâm thuộc Ngân hàng NN&PTNT VN chi nhánh Lạc S”. Trên bề mặt hộp được dán 03 giải giấy niêm phong màu trắng có đóng dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh HB và chữ ký thành phần tham gia niêm phong.
2. 01(một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn một mặt có đề chữ: “ Vật
chứng vụ cướp tài sản ngày 29/10/2020 tại phòng giao dịch Vũ Lâm thuộc Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh Lạc S địa chỉ: xã Vũ Bình, huyện Lạc Sơn, Hòa Bình vụ án: Phạm Văn S - phạm tội cướp tài sản xảy ra ngày 29/10/2020 – 05(Năm) mảnh nhựa hình thù không xác định hoàn lại Cơ quan CSĐT CAT HB sau giám định”. Trên mép dán có dâú tròn đỏ niêm phong của Viện Khoa học hình sự Bộ công an.
(Chi tiết vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số
17/BB - GNVC ngày 03/02/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh HB và Cục thi hành án dân sự tỉnh HB)
4.Về án phí: Bị cáo Phạm Văn S phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn)
đồng án phí hình sự sơ thẩm và 936.100 (chín trăm ba mươi sáu nghìn một trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND cấp cao; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Trại tạm giam CA tỉnh Hòa Bình; - CQ cảnh sát điều tra CA tỉnh Hòa Bình; - Cục THADS tỉnh Hòa Bình; - Bộ chỉ huy quân sự Tỉnh HB; - Bị cáo; - Người tham gia TT; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Tuấn |