vanban.org

Bản án 12/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 18/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Giao bị cáo cho UBND thị trấn CC, huyện CC, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NĐ
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2021/HS-ST
Ngày: 08-02-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĐ, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Xuân

Bà Lê Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện NĐ, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NĐ, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đình Tiến – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 02 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện NĐ, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2021 đối với:

Bị cáo: Đặng Xuân H. Sinh năm 1974 tại huyện CC, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Khối 9, thị trấn CC, huyện CC, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Xuân Lợi (đã chết) và bà Nguyễn Thị Uyển (đã chết); Có vợ: Trần Thị Khánh và 02 con, sinh năm 2010 và sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2020 đến ngày 18/12/2020 thì được tại ngoại. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Phan Sỹ Ngọc. Sinh năm 1974. Nơi cư trú: Số nhà 54, đường Gò Dưa, phường Tam Bình, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

+ Anh Bùi Đức Quyết. Sinh năm 1990. Nơi cư trú: Xóm 4, xã Thạch Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

+ Anh Đinh Văn Hoài. Sinh năm 1989. Nơi cư trú: Khối Quy Chính, thị trấn NĐ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

+ Anh Nguyễn Đình Thanh. Sinh năm 1985. Nơi cư trú: Khối 4A, thị trấn Thanh Chương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 10/12/2020, Đặng Xuân H điều khiển xe khách mang biển kiểm soát 51B-253.89 của chủ xe ông Phan Sỹ Ngọc đi theo tuyến cố định từ bến xe Lam Hồng tỉnh Bình Dương đến huyện CC, tỉnh Nghệ An. Trên xe có Đinh Văn Hoài lái xe, Bùi Đức Quyết và Nguyễn Đình Thanh phụ xe. Vào khoảng 02 giờ ngày 11/12/2020, Hoài thay lái xe cho Hiền nghỉ, còn Thanh và Quyết phụ xe. Khi đến địa phận tỉnh Quảng Trị thì Hiền gọi điện thoại cho một người phụ nữ không rõ lai lịch bán xôi tại ngã tư Sòng thuộc xã Thanh An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị đặt mua 4 suất xôi và đặt mua pháo, người phụ nữ này đồng ý bán xôi và pháo cho Hiền. Đến 02 giờ 30 phút ngày 11/12/2020 tại ngã tư Sòng thì Hiền xuống mua 4 suất xôi còn Thanh trả tiền xôi, Hiền mua 13 cối pháo với giá 5.000.000 đồng (năm triệu) mục đích để về nổ trong dịp Tết nguyên đán. Người phụ nữ này bê pháo đến cho Hiền đứng ở cửa xe nhận và cầm số pháo này đặt lên trên giường số C12 của xe khách. Đến khoảng 08 giờ ngày 11/12/2020 tại khu vực chợ Sen, thị trấn NĐ, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an huyện NĐ dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện tại giường số C12 của xe khách có 01 hộp bìa cát tông đứng 10 khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thước 14x14x12cm, 02 túi ni lông màu đen đựng lần lượt 2 khối hình chữ nhật có kích thước 16x16x25cm.

Ngày 14/12/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NĐ tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng và niêm phong lại với vật chứng trên của Đặng Xuân H gồm 12 khối hình chữ nhật cùng loại, kích thước 14x14x12cm, tổng khối lượng là 16,3 kg, 01 khối hình chữ nhật có kích thước 16x16x25cm có khối lượng 2,7 kg. Tổng khối lượng là 19 kg.

Tại bản kết luận giám định số 06/KL-PC09(Đ2-CN) ngày 18/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu vật thu giữ của Đặng Xuân H gửi đến giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có thuốc pháo và bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ)”.

Cáo trạng số 16/CT-VKS-NĐ ngày 20/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NĐ, tỉnh Nghệ An đã truy tố Đặng Xuân H về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Xuân H mức án từ 15 tháng đến 17 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 34 tháng. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 11 (mười một) khối pháo có kích thước 14x14x12cm, tổng khối lượng 15 kg và vỏ giấy niêm phong ban đầu đựng trong một bì xác rắn màu vàng ban đầu được niêm phong.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Xuân H đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình. Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo cải tạo tại địa phương để có cơ hội sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện NĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng xét thấy không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Đặng Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 11/12/2020, tại khu vực chợ Sen thuộc thị trấn NĐ, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An, Đặng Xuân H đã có hành vi tàng trữ trái phép 19 kg pháo nổ. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với một số hàng hóa cấm nói chung và hàng hóa cấm là pháo nổ nói riêng. Làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn do đó cần xử lý nghiêm hành vi của bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng;

Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội thì bị cáo đầu thú. Bị cáo có mẹ là Nguyễn Thị Uyển được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng ba.

Xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà có khả năng tự cải tạo tại địa phương nên việc cho bị cáo được hưởng án treo không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Về trách nhiệm dân sự:

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 12 (mười hai) khối hình chữ nhật cùng loại, có kích thước 14x14x12cm, tổng khối lượng 16,3 kg và 01 (một) khối hình chữ nhật có kích thước 16x16x25cm có khối lượng 2,7 kg sau khi lấy 02 (hai) khối hình chữ nhật mỗi loại gửi giám định còn 11 (mười một) khối pháo có kích thước 14x14x12cm, tổng khối lượng 15 kg và các vỏ giấy niêm phong ban đầu được niêm phong bằng cách cho vào bì xác rắn màu vàng ban đầu, dùng dây ni lông màu đỏ cột chặt đầu bì xác rắn, dùng giấy niêm phong bịt kín phần nút thắt để niêm phong. Đây là vật chứng cấm lư hành, tàng trữ cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với chiếc xe ô tô khách biển kiểm soát 51B-253.89 đã qua sử dụng đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Phan Sỹ Ngọc, nay không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Đối với người phụ nữ đã bán pháo cho Đặng Xuân H cơ quan điều tra chưa xác định được lý lịch, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận đình của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Xuân H: 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND thị trấn CC, huyện CC, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu hủy: 12 (mười hai) khối hình chữ nhật cùng loại, có kích thước 14x14x12cm, tổng khối lượng 16,3 kg và 01 (một) khối hình chữ nhật có kích thước 16x16x25cm có khối lượng 2,7 kg sau khi lấy 02 (hai) khối hình chữ nhật mỗi loại gửi giám định còn 11 (mười một) khối pháo có kích thước 14x14x12cm, tổng khối lượng 15 kg và các vỏ giấy niêm phong ban đầu được niêm phong bằng cách cho vào bì xác rắn màu vàng ban đầu, dùng dây ni lông màu đỏ cột chặt đầu bì xác rắn, dùng giấy niêm phong bịt kín phần nút thắt để niêm phong.

(Đặc điểm, vật chứng hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng Công an huyện NĐ theo Lệnh nhập kho vật chứng số 98/CSĐT-HS ngày 11/12/2020 của Công an huyện NĐ. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì Công an huyện NĐ có trách nhiệm bàn giao, phối hợp với Chi cục Thi hành án dân sự huyện NĐ làm thủ tục tịch thu và tiêu hủy theo quy định của pháp luật).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đặng Xuân H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ