- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Minh Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Minh Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2021/HS-ST Ngày: 16-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Quý Hòa - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Hoài Ân.
Bà Trần Thị Mỹ Hậu - Phó Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ huyện Hoài Ân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Thường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2021 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa xét xử số: 39/2021/TB-TA ngày 06 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Minh Q; tên gọi khác: không; sinh ngày 12 tháng 9 năm 2004, tại Bình Định (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 10 tháng 24 ngày); nơi cư trú: thôn T, xã Ân Hảo Tây, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn L; con bà: Huỳnh Thị Mỹ H; vợ, con: không; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo:
+ Ông Phạm Minh V - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
+ Ông Bùi Văn L, sinh năm 1979; bà Huỳnh Thị Mỹ H, sinh năm 1982 (là cha, mẹ bị cáo), ông L vắng mặt, bà H có mặt.
Nơi cư trú: Thôn T, xã Ân Hảo Tây, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Bị hại:
+ Bà Võ Thị Hồng L, sinh năm 1989;
Nơi cư trú: Thôn T, xã Ân Hảo Tây, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Duy Q1, sinh năm 1990;
Nơi cư trú: Thôn T, xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1980;
Nơi cư trú: Thôn T, xã Ân Hảo Tây, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1998;
Nơi cư trú: Thôn S, xã Ân Hảo Tây, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1993;
Nơi cư trú: Thôn T, xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 06/8/2021, trong lúc đang đi chăn bò, Bùi Minh Q nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô bán lấy tiền sửa chữa điện thoại. Q đi bộ đến Đội 4, thôn T, xã Ân Hảo Tây, huyện Hoài Ân thấy 01 xe mô tô biển kiểm soát 59P1-849.86 của Võ Thị Hồng L đang dựng bên lề đường, trên xe gắn chìa khóa. Lúc này, Q đến vị trí dựng xe, ngồi lên, nổ máy điều khiển xe đi tìm nơi tiêu thụ. Trên đường đi, Q nhìn thấy tiệm sửa chữa xe máy của Nguyễn Duy Q ở thôn T, xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân nên vào tiệm gặp và trao đổi, sau đó Qđồng ý mua xe mô tô biển kiểm soát 59P1-849.86 với giá 1.800.000 đồng, bán xong Q đi sửa chữa điện thoại rồi đi bộ về nhà.
Tang vật tạm giữ: 01 xe mô tô biển kiểm soát 59P1-849.86; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc; 01 thước kéo cuộn; 01 quần Jeans; 01 áo sơ mi dài tay; 01 áo khoác màu vàng; 01 đôi dép xốp màu đen; 01 mũ vành tròn màu vàng; số tiền 1.800.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Ân đã tiến hành xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 17/KL-HĐĐGTS ngày 20/9/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hoài Ân, kết luận: xe mô tô biển kiểm soát 59P1-849.86 có giá trị là 5.500.000 đồng.
Về dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm.
Bản Cáo trạng số: 22/CT-VKSHA ngày 01/11/2021 của VKSND huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Bùi Minh Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra bị cáo Bùi Minh Q đã thừa nhận phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Minh Q có mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Ân đã tiến hành xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định, nên không xét.
- Về dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm, nên không xét.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa: Về tội danh thống nhất như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Bị hại Võ Thị Hồng L nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện VKSND huyện Hoài Ân, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoài Ân, Điều tra viên, VKSND huyện Hoài Ân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, Bùi Minh Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, với vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 06/8/2021, tại đoạn đường thuộc thôn Vạn Trung, xã Ân Hảo Tây, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, lợi dụng sơ hở của người khác trong việc quản lý tài sản, Bùi Minh Q đã lén lút trộm cắp 01 xe mô tô biển kiểm soát 59P1-849.86 có giá trị 5.500.000 đồng. Do đó, hành vi của Bùi Minh Q đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Mức đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn ở địa phương. Bị cáo ý thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Nên, cần phải xử mức án nghiêm khắc để bị cáo có thời gian cải tạo thành công dân tốt cho xã hội và làm gương cho những người khác. Nhưng xét, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khi phạm tội mới 16 tuổi 10 tháng 24 ngày nên suy nghĩ còn nông cạn; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt. Mặt khác, xét thấy bị cáo từ trước đến nay không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Ân đã tiến hành xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Duy Q, là người mua xe do bị cáo trộm cắp, nhưng không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự 2015.
- Tuyên bố bị cáo Bùi Minh Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Bùi Minh Q 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Minh Q cho Ủy ban nhân dân xã Ân Hảo Tây, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Bùi Minh Quân phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Hoài Ân + Tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định; - Cơ quan CSĐT CA huyện Hoài Ân; - Cơ quan THAHS CA huyện Hoài Ân; - Bị cáo, người ĐDHP của BC; - Bị hại, người bào chữa; - Lưu HSVA, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hồng Nam |