- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2021/HS-ST Ngày 09 - 4 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Luân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Bửu Khánh
Ông Võ Minh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Đức là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày: 19/7/1999 tại huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú: Ấp V, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1976 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm:1977; có vợ là Thạch Thị Diệu H, sinh năm: 2002, có 01 người con là Nguyễn Thị H, sinh năm 2019; tiền án: Có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, tại bản án số 37/2016/HS-ST ngày 08/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ, chưa chấp hành xong hình phạt; tiền sự: Không.
Ngày 03/8/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Riềng ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với bị cáo đã bị bắt tạm giữ kể từ ngày 11/12/2020 đến ngày 17/12/2020 chuyển sang tạm giam cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1976. Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có đơn đề nghị vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 24/3/2020, Nguyễn Văn T điều khiển vỏ máy từ nhà đi đến kênh T thuộc Ấp V, xã H, huyện G, khi đến khu vực đất ruộng của ông Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T phát hiện một máy nỗ hiệu Vanguard 7.5HP màu xanh- đen của ông L đang để trên bờ kênh không ai trông giữ. T ghé võ máy cặp vào bờ lên lấy trộm mang xuống võ máy của mình thì bị ông L phát hiện truy đuổi. T cầm dao tự chế đe dọa rồi điều khiển võ máy chạy về hướng trung tâm xã H. Ông L trình báo lực lượng Công an xã chốt chặn vây bắt thì T điều khiển võ máy chạy vào kênh M thuộc ấp C, xã N bỏ lại võ máy cùng tang vật tại mương bến nhà ông D, sau đó bỏ trốn lên Bình Dương làm thuê đến ngày 11/12/2020 bị bắt giữ.
Qua quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, bị cáo T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Riềng đã thu giữ gồm:
- 01 (một) vỏ Composite màu xanh trắng- đỏ dài 4,3 mét hiệu TĐC “Tiến Đạt” đã quan sử dụng;
- 01 (một) máy xăng hiệu HYUNDAI HE 420E, màu trắng- đỏ- đen, đã qua sử dụng;
- 01 (một) máy xăng hiệu Vanguard 7.5HP màu xanh - đen, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây dao tự chế dài 82cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 62cm mũi nhọn, phần cán tròn dài 20cm, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây dao tự chế dài 34cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 23cm mũi bầu, phần cán bằng gổ tròn dài 11cm, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây kềm màu đỏ- đen, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây bấm màu trắng không hiệu, đã qua sử dụng
- 01 (một) bình ắc quy 6 học loại bình 100 Ampe, đã qua sử dụng;
- 01 (một) kềm cộng lực đài 60cm, tay cầm màu vàng- đen bị rỉ sét, đã qua sử dụng.
- Vào ngày 28/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Riềng đã trả lại cho ông Nguyễn Văn L: 01 (một) máy xăng hiệu Vanguard 7.5HP màu xanh- đen đã qua sử dụng.
Tại bản chứng thư số 18/TĐG-CT/HĐĐG ngày 25/3/2020 của Hội đồng định giá huyện Giồng Riềng kết luận:
- 01 (một) động cơ chạy xăng, loại máy hiệu Vanguard 7.5HP màu xanh-đen, có láp bằng kim loại, đã qua sử dụng;
Tỷ lệ còn lại: 40% (6.500.000 đồng x 40% = 2.600.000 đồng (hai triệu sáu trăm nghìn đồng)).
- Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Văn L đã nhận lại tài sản. Có đơn không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 03/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, của bị cáo. Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định nói trên.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn L đã được nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì nên không đề nghị.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự:
Tịch thu tiêu hủy gồm:
- 01 (một) cây dao tự chế dài 82cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 62cm mũi nhọn, phần cán tròn dài 20cm, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây dao tự chế dài 34cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 23cm mũi bầu, phần cán bằng gổ tròn dài 11cm, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây kềm màu đỏ- đen, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây bấm màu trắng không hiệu, đã qua sử dụng
- 01 (một) cây kềm cộng lực đài 60cm, tay cầm màu vàng- đen bị rỉ sét, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung quỹ nhà nước gồm:
- 01 (một) vỏ Composite màu xanh trắng- đỏ dài 4,3 mét hiệu TĐC “Tiến Đạt” đã quan sử dụng;
- 01 (một) động cơ cạy xăng hiệu HYUNDAI HE 420E, màu trắng- đỏ- đen, đã qua sử dụng;
- 01 (một) bình ắc quy 6 học loại bình 100 Ampe, đã qua sử dụng.
Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Riềng đã trao trả tài sản cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn L: 01 (một) máy xăng hiệu Vanguard 7.5HP màu xanh- đen đã qua sử dụng.
Được nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận về tội danh và khung hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội cụ thể: Vào khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 24/3/2020 T điều khiển vỏ máy từ nhà đi đến kênh T thuộc Ấp V, xã H, huyện G, khi đến khu vực đất ruộng của ông Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T phát hiện một máy nỗ hiệu Vanguard 7.5HP màu xanh- đen của ông L đang để trên bờ kênh không ai trông giữ. T đã lấy trộm mang xuống võ máy của mình thì bị ông L phát hiện truy đuổi, T cầm dao tự chế đe dọa rồi điều khiển võ máy chạy về hướng trung tâm xã H. Ông L trình báo lực lượng Công an xã chốt chặn vây bắt thì T điều khiển võ máy chạy vào kênh M thuộc ấp C, xã N bỏ lại võ máy cùng tang vật tại mương bến nhà ông D rồi bỏ trốn.
Tại bản chứng thư số 18/TĐG-CT/HĐĐG ngày 25/3/2020 của Hội đồng định giá huyện Giồng Riềng kết luận chiếc máy hiệu Vanguard 7.5HP của ông L có giá 2.600.000 đồng (hai triệu sáu trăm nghìn đồng).
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi lén lút lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của anh L để cố ý chiếm đoạt chiếc máy hiệu Vanguard 7.5HP có giá trị 2.600.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 08/7/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội trộm cắp tài sản tại bản án số 37/2016/HS-ST, chưa chấp hành hình phạt bị cáo trốn khỏi địa phương. Do đó, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra đến nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về hình phạt :
Tại bản án số 37/2016/HS-ST ngày 08/7/2016, bị cáo Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội trộm cắp tài sản, bị cáo chưa chấp hành án nhưng lại phạm tội mới nên áp dụng điểm b khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai bản án đối với bị cáo. Hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù, 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ bằng 01 (một) ngày tù. Do bị cáo chưa chấp hành bản án trước bên bị cáo còn phải chấp hành hình phạt 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, chuyển đổi thành hình phạt tù là 03 (ba) tháng tù.
Ngoài ra, trong vụ án này tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn, bị hại cũng đã nhận lại được tài sản của mình do đó HĐXX sẽ cân nhắc một mức án thích hợp đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại tài sản, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
. Về xử lý vật chứng:
Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự, và Điều 47 Bộ luật hình sự:
Tịch thu tiêu hủy gồm:
- 01 (một) cây dao tự chế dài 82cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 62cm mũi nhọn, phần cán tròn dài 20cm, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây dao tự chế dài 34cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 23cm mũi bầu, phần cán bằng gổ tròn dài 11cm, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây kềm màu đỏ- đen, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây bấm màu trắng không hiệu, đã qua sử dụng
- 01 (một) cây kềm cộng lực đài 60cm, tay cầm màu vàng- đen bị rỉ sét, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung quỹ nhà nước gồm:
- 01 (một) vỏ Composite màu xanh trắng- đỏ dài 4,3 mét hiệu TĐC “Tiến Đạt” đã quan sử dụng;
- 01 (một) động cơ cạy xăng hiệu HYUNDAI HE 420E, màu trắng- đỏ- đen, đã qua sử dụng;
- 01 (một) bình ắc quy 6 học loại bình 100 Ampe, đã qua sử dụng.
Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Riềng đã trao trả tài sản cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn L: 01 (một) máy xăng hiệu Vanguard 7.5HP màu xanh- đen đã qua sử dụng.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b khoản 1 Điều 55 ; khoản 2 Điều 56 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù.
Bị cáo Nguyễn Văn T còn phải chấp hành 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ tại Bản án số 37/2016/HS-ST ngày 08/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng được chuyển đổi thành hình phạt tù là 03 (ba) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc bị cáo phải chấp hành chung là 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt là ngày 11/12/2020.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn L đã được nhận lại tài sản, không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự:
Tịch thu tiêu hủy gồm:
- 01 (một) cây dao tự chế dài 82cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 62cm mũi nhọn, phần cán tròn dài 20cm, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây dao tự chế dài 34cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 23cm mũi bầu, phần cán bằng gổ tròn dài 11cm, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây kềm màu đỏ- đen, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây bấm màu trắng không hiệu, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây kềm cộng lực đài 60cm, tay cầm màu vàng- đen bị rỉ sét, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung quỹ nhà nước gồm:
- 01 (một) vỏ Composite màu xanh trắng- đỏ dài 4,3 mét hiệu TĐC “Tiến Đạt” đã quan sử dụng;
- 01 (một) động cơ cạy xăng hiệu HYUNDAI HE 420E, màu trắng- đỏ- đen, đã qua sử dụng;
- 01 (một) bình ắc quy 6 học loại bình 100 Ampe, đã qua sử dụng.
Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Riềng đã trao trả tài sản cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn L: 01 (một) máy xăng hiệu Vanguard 7.5HP màu xanh - đen đã qua sử dụng.
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
5. Báo cho bị cáo Nguyễn Văn T biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 09/4/2021. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Giồng Riềng; - Công an huyện Giồng Riềng; - Chi cục THADS huyện Giồng Riềng; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Ngọc Luân |