vanban.org

Bản án 12/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 30/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Thạch S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Thạch S 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2020. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Thạch S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU KÈ
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2021/HS-ST
Ngày: 30-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chí Điền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Sơn Hương;

Bà Trần Thị Thúy Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đức Trọn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Hua - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2021/HSST ngày 23 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 10/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Thạch S, sinh ngày 01/01/1996, tại tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: Ấp Rùm S, xã Châu Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinhh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch X, sinh năm 1967 và bà Thạch Thị T, sinh năm: 1972; Bị cáo chưa có vợ và con; Tiền án: Không có; Tiền sự: Không có; Nhân thân: Tốt. Ngày 09/11/2020 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị tạm giữ từ ngày 09/11/2020. Ngày 12/11/2020 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh tạm giam cho đến nay (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Thạch S là ông Phạm Minh Luận - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Trà Vinh. Địa chỉ: Số 04 Lê Thánh Tôn, khóm 2, phường 2, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

- Người làm chứng:

1. Bà Thạch Thị T, sinh năm 1972 (có mặt);

2. Ông Thạch Ch, sinh năm 1990 (có mặt);

3. Ông Thạch L, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp Rùm S, xã Châu Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinhh.

- Người phiên dịch: Ông Thạch Am - Cán bộ hưu trí.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào năm 2018 bị cáo Thạch S đến ở trọ và làm thuê cùng gia đình tại số 78 đường Tây Lân, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (do ông Võ Đức T, sinh năm 1988 làm chủ). Trong quá trình làm thuê bị cáo có quen biết một người thanh niên khoảng 24 tuổi, tên thường gọi T (nhưng không rõ họ tên thật và địa chỉ cụ thể). Trong quá trình quen biết nhau bị cáo và T nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy (bị cáo không xác định được thời gian và địa điểm cụ thể, chỉ xác định được phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó bị cáo biết rõ Trung có khả năng mua ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 08/11/2020 bị cáo đang ở phòng trọ và mượn điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A50, màu đen của mẹ ruột là bà Thạch Thị Th để liên lạc qua cuộc gọi mạng xã hội Facebook (Messenger) với người thanh niên tên Trung. Đồng thời yêu cầu Tg mua giúp ma túy đá với số tiền 200.000 đồng thì được T đồng ý và thỏa thuận địa điểm giao, nhận ma túy tại khu vực phòng trọ của bị cáo đang ở. Đến khoảng 18 giờ ngày 08/11/2020 bị cáo đang ở phòng trọ một mình thì có một người thanh niên khoảng 20 tuổi, không biết tên đến gặp bị cáo và hỏi “T gọi phải không” thì bị cáo trả lời “Ừ” cả hai biết nhau về việc mua, bán ma túy nên người thanh niên đưa cho bị cáo 01 túi nhựa được hàn kín, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể rắn màu trắng là ma túy. Nhận được ma túy bị cáo trả cho người thanh niên này số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo cất giấu vào trong cái bóp (ví) cá nhân mục đích để sử dụng. Do trước đó bị cáo được mẹ ruột là bà Thạch Thị T kêu về nhà tại Ấp Rùm S, xã Châu Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinhh để làm cỏ vườn, nên khoảng 01 giờ ngày 09/11/2020 bị cáo cất giấu ma túy trong người rồi đón xe khách từ Thành phố Hồ Chí Minh về nhà tại ấp Rùm S, xã Châu Đ. Khi về đến nhà bị cáo đến chơi và uống rượu tại nhà ông Thạch L. Đến khoảng 17 giờ 50 phút ngày 09/11/2020 lực lượng Công an huyện Cầu Kè phối hợp với Công an xã Châu Điền tiến hành tuần tra, do nghi vấn bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trên người bị cáo có cất giấu bên trong túi quần bằng vải Jean, màu đen bên phải phía sau 01 túi nhựa được hàn kín có kích thước 03cm x 01cm, bên trong có nhiều hạt tinh thể rắn, màu trắng, nghi là ma túy (được niêm phong ký hiệu A1). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ đối với bị cáo để tiếp tục điều tra làm rõ (Bút lục: 11, 12, 86, 87, 88).

Ngày 10/11/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè ra Quyết định trưng cầu giám định chất nghi là ma túy (được niêm phong ký hiệu A1) đã tạm giữ trên người bị cáo vào ngày 09/11/2020. Ngày 12/11/2020 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh ra Bản kết luận giám định số: 495/KLGĐ xác định: “Tinh thể rắn màu trắng là ma túy; Loại: Methamphetamine; Khối lượng: 0,1777gam” (Bút lục: 20).

Xét thấy hành vi của Thạch S có dấu hiệu phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 12/11/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và Lệnh tạm giam cho đến nay. Quá trình điều tra bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Quá trình làm việc bị cáo khai nhận: Nguồn gốc ma túy mà bị cáo tàng trữ vào ngày 09/11/2020 là do bị cáo mua của một người thanh niên lạ mặt tên T (không rõ họ tên thật và địa chỉ) giới thiệu vào ngày 08/11/2020 tại nơi trọ của bị cáo địa chỉ số 78 đường Tây Lân, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Do bị cáo không cung cấp được họ tên và địa chỉ cụ thể của người đàn ông tên Trung và người thanh niên lạ mặt giao ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xác định được con người cụ thể, cũng như địa chỉ nên không thể triệu tập làm việc được (Bút lục: 36).

Làm việc với bà Thạch Thị T là mẹ ruột bị cáo Thạch S: Trong thời gian sống cùng phòng trọ với bà Thia, bị cáo thường xuyên mượn điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A50, màu đen, loại màn hình cảm ứng, số sêri R9WMB18A18J, số thuê bao 0355475315 của bà để chơi game. Ngày 08/11/2020 bị cáo mượn điện thoại của bà Thia để liên lạc mua ma túy thì bà Thia hoàn toàn không hay biết. Qua làm việc bà Thia cho biết điện thoại di động trên đã bị hư hỏng, đồng thời tiến hành kiểm tra điện thoại không có thư mục Facebook và Messenger nên Cơ quan điều tra không xác định được người thanh niên tên Trung địa chỉ ở đâu, từ đó không triệu tập làm việc được. Bà Thia không biết bị cáo sử dụng điện thoại của mình để liên lạc mua ma túy nên không tiến hành thu giữ (Bút lục 63, 64).

Vật chứng của vụ án:

Quá trình kiểm tra, bắt quả tang đối với bị cáo Thạch S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè đã thu giữ 01 túi nhựa được hàn kín màu trắng kích thước 03cm x 01cm, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể rắn, màu trắng nghi là chất ma túy (được niêm phong ký hiệu A1). Sau khi giám định xác định là ma túy; Loại: Methamphetamine; Khối lượng 0,1777gam. Sau khi lấy mẫu giám định thì gói tinh thể màu trắng (ký hiệu A1) còn lại khối lượng 0,1671 gam được để trong phong bì niêm phong số: 495/MA1 ghi ngày 12/11/2020 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Hoàng Nhã. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè đã tiến hành nhập kho bảo quản và đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2021.

Trách nhiệm dân sự: Không có.

Tại Cáo trạng số 14/CT-VKS-HS ngày 23/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Thạch S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Thạch S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng thể hiện là đúng và không bổ sung hay khiếu nại gì về nội dung Cáo trạng.

Những người làm chứng có mặt tại phiên tòa đã khai đúng như lời khai trước đây đã cung cấp cho Cơ quan điều tra và được lưu trong hồ sơ vụ án.

Vị đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội bị cáo, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Thạch S từ 12 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2020.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy khối lượng 0,1671 gam ma túy, loại Methamphetamine được để trong phong bì niêm phong số: 495/MA1 ghi ngày 12/11/2020 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Hoàng Nhã.

Về trách nhiệm dân sự: Không có.

Ngoài ra vị đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Thạch S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Thạch S xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Luật sư Phạm Minh Luận có ý kiến tranh luận: Thống nhất theo cáo trạng đã truy tố bị cáo Thạch S. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức thấp nhất theo lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát do nhận thức pháp luật của bị cáo hạn chế.

Bị cáo Thạch S thống nhất theo ý kiến tranh luận của Luật sư và không bổ sung gì thêm.

Vị đại diện Viện kiểm sát không đối đáp gì thêm.

Bị cáo Thạch S nói lời sau cùng: Bị cáo thấy ăn năn, hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi của bị cáo Thạch S: Khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 09/11/2020 tại nhà ông Thạch Linh lực lượng Công an tiến hành kiểm tra trên người bị cáo thì phát hiện trong túi quần bằng vải Jean, màu đen bên phải phía sau của bị cáo có 01 túi nhựa được hàn kín có kích thước 03cm x 01cm, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể rắn, màu trắng, nghi là ma túy nên tiến hành tạm giữ và niêm phong. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ đối với Thạch S. Tại Bản kết luận giám định số: 495/KLGĐ ngày 12/11/2020 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh ra xác định: “Tinh thể rắn màu trắng là ma túy; Loại: Methamphetamine; Khối lượng: 0,1777gam”.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè đã truy tố bị cáo Thạch S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ và trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng, của người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng, của người bào chữa đều đúng với quy định của pháp luật. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định và hành vi này nên các quyết định và hành vi này đều hợp pháp. Về những chứng cứ, tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thu thập là hợp pháp.

Xét tính chất, mức độ và hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền quản lý, sử dụng độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện nên một khi đã sử dụng thì khó có thể từ bỏ được. Chúng được xem là nguyên nhân làm hao mòn, tổn hại cho sức khỏe và đặc biệt là làm phát sinh các tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy mà Nhà nước, xã hội đang ra sức thực hiện, ảnh hưởng đến sự an toàn của xã hội. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ như: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với khối lượng 0,1671 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi giám định được để trong phong bì niêm phong số 495/MA1 ghi ngày 12/11/2020 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Hoàng Nhã. Xét thấy đây là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Không có.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Thạch S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Từ những phân tích nêu trên, xét thấy Bản luận tội của Vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận. Quan điểm của người bào chữa có cơ sở chấp nhận một phần.

Bị cáo được kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Thạch S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Thạch S 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2020.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy khối lượng 0,1671 gam ma túy, loại Methamphetamine được để trong phong bì niêm phong số: 495/MA1 ghi ngày 12/11/2020 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Hoàng Nhã. Vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Không có.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Thạch S nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo Thạch S được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ