- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn chi V anh H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Võ Thị Thanh V và anh Phan Quang H ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2021/HNGĐ-ST Ngày 17/5/2021 “V/v xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Phan Xuân Nam.
+ Ông Châu Khắc Thái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Bảng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, số 11 Tôn Đức Thắng, thành phố Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 02/2021/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 01 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thanh V; năm sinh: 1991; trú tại: 37/131 đường P, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Bị đơn: Anh Phan Quang H; năm sinh: 1984; trú tại: đường U, thành phố P, Ba Lan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác thì chị Võ Thị Thanh V trình bày như sau:
Chị Võ Thị Thanh V và anh Phan Quang H quen biết nhau từ năm 2010. Được sự đồng ý của hai bên gia đình, anh H chị V đã tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán Việt Nam. Ngày 18/10/2011 chị Võ Thị Thanh V và anh Phan Quang H đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với nhau một thời gian thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, đời sống vợ chồng không hòa hợp. Năm 2019, anh Phan Quang H đi sang Ba Lan để làm ăn. Từ năm 2019 đến nay anh H ít khi liên lạc, quan tâm đến chị và các con, vợ chồng sống xa nhau nên tình cảm không còn, khả năng vợ chồng đoàn tụ là rất khó nên chị có nguyện vọng xin được ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị Võ Thị Thanh V khai anh chị có hai con chung là cháu Phan Võ Bảo A (sinh ngày 15/7/2011) và cháu Phan Bảo P (sinh ngày 07/7/2017). Chị V có nguyện vọng nuôi hai cháu Võ Thị Thanh V và cháu Phan Bảo P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: chị Võ Thị Thanh V khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn Phan Quang H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc chị V yêu cầu xin ly hôn với anh. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhận được thư trả lời của anh có nội dung: Anh đã nhận được các văn bản do Tòa án tỉnh Thừa Thiên Huế gửi. Anh đồng ý ly hôn với chị V. Về con chung, anh H đồng ý để chị V nuôi dưỡng hai cháu và không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, chị V khai không có tài sản chung, không có nợ chung là đúng sự thật nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bận công việc không thể về Việt Nam để tham gia tố tụng được nên anh đề nghị Tòa án xét xử ly hôn vắng mặt anh.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã lấy lời khai của cháu Phan Võ Bảo A (sinh ngày 15/7/2011), theo cháu A khai, cháu có nguyện vọng xin được ở với mẹ là Võ Thị Thanh V. Vì cuộc sống từ nhỏ đến nay cháu A đã ở với mẹ và được mẹ chăm sóc, ba ở xa không thể chăm lo cho cháu được.
Tại phiên tòa, Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
Về kiểm sát tuân theo pháp luật về tố tụng, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có ý kiến như sau: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong vụ án đều tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, không có vi phạm gì cần phải kiến nghị để khắc phục. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn, cho chị Võ Thị Thanh V được ly hôn với anh Phan Quang H.
Vê nuôi con: Anh H đang ở Ba Lan không thể nuôi con chung. Xét yêu cầu được nuôi cả hai cháu của chị Võ Thị Thanh V và xét nguyện vọng được ở với mẹ của cháu Phan Võ Bảo A. Đề nghi Tòa án xử giao hai cháu Phan Võ Bảo A và cháu Phan Bảo P cho chị Võ Thị Thanh V chăm sóc nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và qua thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Phan Quang H đang định cư ở Ba Lan, có đơn xin xét xử vắng mặt, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã thể hiện được ý chí của anh H về việc giải quyết vụ án. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử vắng mặt anh Phan Quang H theo khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thanh V và anh Phan Quang kết hôn hợp pháp, được Ủy ban nhân dân phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/10/2011.Sau khi kết hôn, chị V và anh H sống chung với nhau một thời gian thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, đời sống vợ chồng không hòa hợp. Năm 2019, anh Phan Quang H đi Ba Lan để làm ăn. Do vợ chồng sống xa nhau, không có điều kiện quan tâm, chăm sóc nhau nên không còn tình cảm với nhau. Xét thấy, chị V và anh H không còn nhu cầu gắn bó với nhau, cả hai muốn ly hôn để mỗi người chọn cuộc sống riêng của mình. Do vậy, cần chấp nhận cho anh Phan Quang H được ly hôn với chị Võ Thị Thanh V.
Về con chung: Chị Võ Thị Thanh V và anh Phan Quang H đều khai anh chị có hai con chung là cháu Phan Võ Bảo A ( sinh ngày 15/7/2011) và cháu Phan Bảo P ( sinh ngày 07/7/2017). Chị V có nguyện vọng nuôi hai cháu Phan Võ Bảo A và Phan Bảo P, Anh H đã chấp nhận với yêu cầu trên do vậy cần giao hai cháu cho chị V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Võ Thị Thanh V cho rằng mình có thu nhập ổn định, đủ khả năng chăm sóc nuôi dưỡng hai cháu do vậy không yêu cần anh H nộp tiền cấp dưỡng nuôi con nên cần chấp nhận sự tự nguyện của chị V.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thị Thanh V và anh Phan Quang H đều xác định, vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung và không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị V phải chịu 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 228, Điều 470, Điều 474, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBNVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thu nộp lệ phí, án phí Tòa án;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Võ Thị Thanh V và anh Phan Quang H ly hôn.
2. Về con chung: Xử giao hai cháu cháu Phan Võ Bảo A (sinh ngày 15/7/2011) và cháu Phan Bảo P (sinh ngày 07/7/2017) cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến năm 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị Thanh V phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị V đã nộp, thể hiện tại biên lai thu tiền số: 005684 ngày 28/01/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế, nay chị V không phải nộp thêm.
Bản án này là sơ thẩm, chị Võ Thị Thanh V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phan Quang H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh TT Huế; - Cục THADS tỉnh TT Huế; - Các đương sự; - Lưu: HCTP; HSVA; Tòa DS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘIĐỒNG Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Thái Thị Hồng Vân |