vanban.org

Bản án 12/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Trần Hậu L được ly hôn chị Đặng Thị Thúy L1.

Về con chung: Giao con chung Trần Đặng Khánh H, sinh ngày 02/11/2012 cho anh Trần Hậu L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung Trần Hậu Huy H, sinh ngày 11/01/2017 cho chị Đặng Thị Thúy L1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh L, chị L1 không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Anh L, ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ sơ thẩm giữa nguyên đơn anh Trần Hậu L- bị đơn chị Đặng Thị Thúy L1"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Trần Hậu L được ly hôn chị Đặng Thị Thúy L1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 07-12-2021
V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH – TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Cừ

Ông Nguyễn Văn Lương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Dương Việt Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân Thành phố Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 107/2021/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/11/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Hậu L, sinh năm 1972

Địa chỉ: Tổ dân phố Bắc Quý, phường Thạch Q, thành phố H, tỉnh Hà T – Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Đặng Thị Thúy L1, sinh năm 1987

Địa chỉ: Tổ dân phố Bắc Quý, phường Thạch Q, thành phố H, tỉnh Hà T – Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Hậu L trình bày:

Anh và chị Đặng Thị Thúy L kết hôn vào ngày 10/5/2012, hôn nhân tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đức Thanh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống tại phường Thạch Quý, thành phố Hà Tĩnh. Anh L, chị L1 đều làm nghề tự do. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, khoảng 01 năm lại nay vợ chồng sống ly thân. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng là bất đồng quan điểm sống, chị L1 sống không chung thủy, có quan hệ bất chính với người khác dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vã, xô xát lẫn nhau. Hiện tình cảm vợ chồng không còn nên anh Trần Hậu L xin được ly hôn với chị Đặng Thị Thúy L1.

Về con chung: Vợ, chồng có hai con chung tên là Trần Đặng Khánh H, sinh ngày 02/11/2012 và con Trần Hậu Huy H, sinh ngày 11/01/2017. Nếu được ly hôn anh L xin trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung cháu Trần Đặng Khánh H. Giao con Trần Hậu Huy H cho chị L1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai bị đơn chị Đặng Thị Thúy L1 trình bày:

Chị Lan thừa nhận về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian mâu thuẫn, sống ly thân là đúng. Còn nguyên nhân mâu thuẫn một phần là do tính cách không hòa hợp, một phần là do anh L thường xuyên rượu, chè về nhà chửi bới, xúc phạm vợ con vô cớ. Anh, chị đã sống ly thân thời gian dài và không còn quan tâm, chăm sóc gì nhau. Hiện tình cảm vợ chồng không còn nên chị L1 cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ, chồng có hai con chung Trần Đặng Khánh H, sinh ngày 02/11/2012 và con Trần Hậu Huy H, sinh ngày 11/01/2017. Giao anh L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung cháu Trần Đặng Khánh H. Đề nghị giao con Trần Hậu Huy H cho chị L1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do hiện nay chị L1 đang ở tỉnh Đồng Nai, vùng dịch bệnh nên việc đi lại hết sức khó khăn. Vì vậy, chị không về Tòa án thành phố Hà Tĩnh để làm việc được, chị L1 yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt chị.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã có bản tự khai, có đơn xin giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt.

- Về nội dung vụ án: Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa thể hiện:

+Về hôn nhân: tình trạng hôn nhân giữa anh Trần Hậu L và chị Đặng Thị Thúy L1 đã trầm trọng, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, mục đích hôn nhân là xây dựng một gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: cho anh Trần Hậu L được ly hôn với chị Đặng Thị Thúy L1; Về con: Giao con chung Trần Đặng Khánh H, sinh ngày 02/11/2012 cho anh Trần Hậu L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung Trần Hậu Huy H, sinh ngày 11/01/2017 cho chị Đặng Thị Thúy L1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh L, chị L1 không yêu cầu đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét; Về tài sản, nợ chung: anh Lĩnh, chị Lan không yêu cầu nên miễn xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Anh Trần Hậu L khởi kiện xin ly hôn, giải quyết việc nuôi con chung với chị Đặng Thị Thúy L1 nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn, giải quyết việc nuôi con”. Chị Đặng Thị Thúy L1 hiện trú tại: Tổ dân phố Bắc Quý, phường Thạch Q, thành phố H. Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án chị Đặng Thị Thúy L1 xin vắng mặt. Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vụ án vắng mặt chị Đặng Thị Thúy L1 là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Anh Trần Hậu L và chị Đặng Thị Thúy L1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đức Thanh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Anh Trần Hậu L nhận thấy vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh L xin được ly hôn. Chị Đặng Thị Thúy L1 cũng thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, sống không tôn trọng nhau. Vì vậy, anh L làm đơn xin ly hôn thì chị đồng ý.

Căn cứ vào lời khai của các bên đương sự, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: tình trạng hôn nhân giữa anh L, chị L1 đã trầm trọng, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, mục đích hôn nhân là xây dựng một gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho anh Trần Hậu L được ly hôn chị Đặng Thị Thúy L1 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về con chung: Anh Trần Hậu L và chị Đặng Thị Thúy L1 đều thừa nhận vợ chồng có 2 con chung tên là Trần Đặng Khánh H, sinh ngày 02/11/2012 và con Trần Hậu Huy H, sinh ngày 11/01/2017. Anh L có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Đặng Khánh H. Chị L1 có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Hậu Huy H. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: anh L, chị L1 thỏa thuận về việc nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Hơn nữa hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, con Trần Đặng Khánh H hiện đang sống với anh L và có nguyện vọng là được ở với anh L. Con Trần Hậu Huy H đang sống với chị L1. Vì vậy, việc thỏa thuận trên là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh L, chị L1 đều không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh L, chị L1 đều có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Hậu L, chị Đặng Thị Thúy L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp các quy định pháp luật.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Nguyên đơn anh Trần Hậu L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Trần Hậu L được ly hôn chị Đặng Thị Thúy L1.

2. Về con chung: Giao con chung Trần Đặng Khánh H, sinh ngày 02/11/2012 cho anh Trần Hậu L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung Trần Hậu Huy H, sinh ngày 11/01/2017 cho chị Đặng Thị Thúy L1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh L, chị L1 không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Anh L, chị L1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Hậu L và chị Đặng Thị Thúy L1 không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Buộc nguyên đơn anh Trần Hậu L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001012 ngày 11 tháng 10 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bên được thi hành án dân sự, bên phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ