- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thần D - Dương thị K"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Dương Thần D, xử cho anh Dương Thần D được ly hôn với chị Dương Thị K.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2021/HNGĐ-ST Ngày 09-02-2021 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Đạo
Ông Hoàng Minh Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lệ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Dương Mai Phương, Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2020/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2020 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2021/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Dương Thần D, sinh năm 1978
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
2. Bị đơn: Chị Dương Thị K, sinh năm 1988
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai tại Tòa án, anh Dương Thần D trình bày như sau:
Anh Dương Thần D kết hôn với chị Dương Thị K vào năm 2009, trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nh, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn vợ chồng anh làn ăn ở quê vợ tại xã N, huyện B được hơn một năm thì chuyển về quê của anh tại thôn L, xã T, huyện B làm ăn và sinh sống, thời gian đầu tình cảm vợ chồng bình thường. Quá trình chung sống đến năm 2013 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng nhiều lần cãi chửi và đánh nhau. Đến tháng 4 năm 2013 chị Dương Thị K bỏ nhà đi, từ ngày chị K bỏ đi bản thân anh và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng vẫn không biết tin tức gì của chị K. Tháng 4 năm 2020 anh Dương Thần D đã làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố chị Dương Thị K mất tích đến ngày 18/9/2020 Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn đã ra quyết định tuyên bố chị Dương Thị K mất tích. Hiện nay anh Dương Thần D yêu cầu được ly hôn với chị Dương Thị K.
Về con chung: Có 01 người con chung tên là Dương Quốc B, sinh ngày 13/7/2010 hiện nay đang ở với anh Dương Thần D. Khi ly hôn anh D yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu chị Dương Thị K phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có
Do chị Dương Thị K bị Tòa án tuyên bố mất tích từ tháng 9 năm 2020 đến nay vẫn không có tin tức gì nên không có lời khai của chị Dương Thị K.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các bước về trình tự, thủ tục tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo quy định tại Điều 48, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nguyên đơn anh Dương Thần D đã chấp hành, thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự như: Thực hiện quyền khởi kiện; nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình; có mặt tham gia phiên tòa sơ thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Dương Thần D, xử cho anh Dương Thần D được ly hôn với chị Dương Thị K. Về con chung: Giao con chung tên là Dương Quốc B, sinh ngày 13/7/2010 cho anh Dương Thần D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi), chị Dương Thị K không phải cấp dưỡng nuôi con chung; chị Dương Thị K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Anh Dương Thần D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn anh Dương Thần D khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn. Vì vậy quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Dương Thị K có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi mất tích tại xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, căn cứ Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập, thông báo cho các đương sự yêu cầu viết bản khai, cung cấp tài liệu chứng cứ và tham gia phiên họp và phiên hòa giải theo quy định. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Dương Thần D luôn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Dương Thị K do đã bị Tòa án tuyên bố mất tích và đến thời điểm Tòa án giải quyết vụ án vẫn không có tin tức gì nên không có mặt tại Tòa án trình bày ý kiến, tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các giấy triệu tập, thông báo, quyết định. Tại phiên tòa, chị Dương Thị K đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị Dương Thị K.
Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa anh Dương Thần D và chị Dương Thị K là hợp pháp, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 25/11/2009 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đến tháng 4 năm 2013, chị Dương Thị K đã bỏ nhà đi từ đó đến nay không có tin tức gì. Từ ngày chị K bỏ nhà đi anh Dương Thần D đã nhiều lần áp dụng các biện pháp thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì của chị K. Đến tháng 4 năm 2020 anh Dương Thần D đã yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Dương Thị K mất tích, đến ngày 18 tháng 9 năm 2020 Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định tuyên bố chị Dương Thị K mất tích. Từ ngày Tòa án ra Quyết định tuyên bố mất tích đến nay vẫn không có tin tức gì của chị K. Vì vậy anh Dương Thần D yêu cầu được ly hôn với chị Dương Thị K là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
Về con chung: Do chị Dương Thị K đã bị tuyên bố mất tích, hiện nay vẫn không có tin tức gì nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, 82, 83 xét thấy cần giao con chung tên là Dương Quốc B, sinh ngày 13/7/2010 cho anh Dương Thần D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) đó cũng là nguyện vọng của cháu Dương Quốc B; chị Dương Thị K không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì anh Dương Thần D không yêu cầu; chị K có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án anh Dương Thần D trình bày là không có, tuy nhiên do chị Dương Thị K vắng mặt, không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh Dương Thần D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 68 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 51; khoản 2 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Dương Thần D, xử cho anh Dương Thần D được ly hôn với chị Dương Thị K.
2. Về con chung: Giao con chung tên là Dương Quốc B, sinh ngày 13/7/2010 cho anh Dương Thần D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi); chị Dương Thị K không phải cấp dưỡng nuôi con chung; chị Dương Thị K có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Anh Dương Thần D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn để nộp ngân sách Nhà nước. Xác nhận anh Dương Thần D đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2012/05932 ngày 10 tháng 11 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Dương Thần D có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn chị Dương Thị K vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS huyện Bắc Sơn; - UBND xã N, huyện B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Dƣơng Thị Ngọc |