vanban.org

Bản án 12/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Xuân T và chị Nguyễn Thị N.

Buộc chị Vũ Thị H phải trả cho anh Đinh Xuân T và chị Nguyễn Thị N số tiền vay là 32.000.000đ (Ba mươi hai triệu đồng) Kể từ ngày anh Đinh Xuân T và chị Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, chị Vũ Thị H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tay tài Đinh Xuân T - Vũ Thị H"
  • Tòa quyết gì? 1/ Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Xuân T và chị Nguyễn Thị N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 12/2021/DS-ST
Ngày: 27-9-2021
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Giang Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Út và ông Dương Quý Sáng

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Dần - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: ông Phạm Ngọc Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 27/9/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2021/TLST- DS ngày 21 tháng 7 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2021/QĐXXST-DS ngày 10/9/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Đinh Xuân T và chị Nguyễn Thị N

Địa chỉ: Tổ 6B thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai

Anh T có mặt, chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Lương Công T và chị Vũ Thị H

Địa chỉ: Tổ 5A thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai

Đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp ngày 21/7/2021, bản tự khai và trong quá trình xét xử nguyên đơn anh Đinh Xuân T và chị Nguyễn Thị N trình bày:

Do có mối quan hệ quen biết nên ngày 28/3/2020 anh chị cho vợ chồng chị Vũ Thị H anh Lương Công T vay số tiền 50.000.000đ, chị H trực tiếp đi vay và trình bày lý do vay để giải quyết công việc gia đình và thế chấp tài sản là xe ô tô của gia đình. Hai bên có làm giấy tờ vay tiền do chị H ký và chị H hẹn trong vòng 02 tháng sẽ trả nợ cho anh chị, khi vay không thoả thuận trả lãi. Đến ngày 03/8/2021 không thấy vợ chồng chị H trả nợ nên anh chị đã đến đòi nợ và chị H viết giấy hẹn ngày 30/9/2020 sẽ trả đầy đủ. Anh chị đã đòi nợ nhiều lần, anh T đứng ra trả nợ 4 lần được 18.000.000đ, còn nợ lại 32.000.000đ. Nay anh chị đề nghị Toà án giải quyết buộc anh T chị H phải có trách nhiệm liên đới trả cho anh chị số tiền vay là 32.000.000đ, không yêu cầu trả tiền lãi.

Đối với bị đơn anh Lương Công T trình bày: Chị H vay tiền của anh Trường chị N là đúng nhưng vay để làm gì thì anh không biết và không được cầm tiền, chị H vay sử dụng vào việc riêng. Trong thời gian qua anh T chị N đòi nợ chị H nhiều lần thì anh có trả hộ chị H 4 lần với số tiền là 18.000.000đ. Nay anh T chị N khởi kiện anh thì anh không nhất trí vì anh không vay tiền của anh chị nên không liên quan.

Bị đơn chị Vũ Thị H trình bày: Chị có vay tiền của anh T chị N số tiền 50.000.000đ từ ngày 04/3/2018 với lãi suất là 5%/tháng, khi vay có ký nhận vào sổ sách của anh T hiện sổ này do anh T quản lý. Chị đã trả lãi cho anh T đến tháng 3/2020 thì anh T đến ép chị viết giấy nhận nợ và không tính lãi, yêu cầu chị phải trả trong hạn 01 tháng. Tuy nhiên do không có tiền trả nợ nên anh T đã đứng ra trả hộ cho anh T 4 lần với số tiền là 18.000.000đ, hiện còn nợ lại 32.000.000đ. Mục đích chị vay tiền là sử dụng mục đích riêng cá nhân không liên quan tới anh T, giấy vay tiền ghi mục đích sử dụng giải quyết việc gia đình và thế chấp bằng tài sản xe ô tô của vợ chồng là do anh T ép chị phải viết theo nội dung anh T đọc. Nay anh T khởi kiện thì chị nhất trí sẽ trả nợ cho anh T.

Về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ, nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng cứ, bị đơn không cung cấp chứng cứ gì. Đối với vụ án này Toà án không hoà giải được do bị đơn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn giữ nguyên ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên phát biểu quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng nghĩa vụ. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị áp dụng: Điều 463, 466 Bộ luật dân sự, Điều 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị Vũ Thị H phải thanh toán cho anh Trường chị N số tiền 32.000.000đ, buộc chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung: anh Đinh Xuân T và chị Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với anh Lương Công T và chị Vũ Thị H. Căn cứ vào Điều 27, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Do bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án xét xử vắng mặt bị đơn.

. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xét thấy việc chị Vũ Thị H vay số tiền 50.000.000đ của anh Đinh Xuân T chị Nguyễn Thị N là đúng sự thật, hiện chị đã trả được 18.000.000đ còn nợ lại 32.000.000đ. Đến nay đã hết thời hạn cho vay theo thoả thuận mà chị H không trả nên anh Trường chị N có quyền khởi kiện đòi nợ là phù hợp quy định tại Điều 466 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh T chị N cho rằng khi chị H không trả được nợ thì anh T đã đứng ra nhận trả và đã trả được 4 lần với số tiền 18.000.000đ nên khoản vay trên là vay chung của vợ chồng. Tuy nhiên tại giấy vay tiền ngày 28/3/2020 và giấy nhận nợ ngày 03/8/2020 không có chữ ký của anh T. Lời khai của anh T và chị H đều xác định chị H sử dụng số tiền vay vào mục đích riêng, quá trình thu thập chứng cứ không có căn cứ nào xác định chị H sử dụng số tiền vay vào mục đích chung của vợ chồng. Do đó không thể buộc chị H và anh T liên đới trả cho anh Trường chị N số tiền còn nợ 32.000.000đ.

Vì vậy căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T chị N, buộc chị H phải có trách nhiệm trả nợ cho anh chị số tiền 32.000.000đ.

. Về án phí: Chị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, anh T chị N không phải chịu tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 147; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Xuân T và chị Nguyễn Thị N.

Buộc chị Vũ Thị H phải trả cho anh Đinh Xuân T và chị Nguyễn Thị N số tiền vay là 32.000.000đ (Ba mươi hai triệu đồng)

Kể từ ngày anh Đinh Xuân T và chị Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, chị Vũ Thị H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2/ Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Đinh Xuân T và chị Nguyễn Thị N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai là 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0003330 ngày 21/7/2021.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn vắng mặt và bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ