- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2020/HSST Ngày: 14/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Quang;
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thủy và bà Hồ Thị Việt Hòa.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đắc Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 14/02/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2020/HSST ngày 20 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Bùi Văn D, sinh năm 1990; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và cư trú: Gò Lăng, xã Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; con ông: Bùi Văn Dến, sinh năm 1966 và con bà: Bùi Thị Tiển, sinh năm 1971; có vợ là Vi Thị Lý, sinh năm 1992 và có 2 con (sinh năm 2011 và 2017); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty TNHH
Trụ sở: Số 17 ngõ 49 phố Vĩnh Hồ, phường Ngã Tư Sở, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Doãn Ph – Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Anh Phạm Đa Đ, sinh năm 1989; trú tại Thôn 8, xã Đông Sơn, huyện Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình – là nhân viên của công ty. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị Ch , sinh năm 1981; trú tại: Ngõ 284 Trần Cung, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn D là công nhân cùng Công ty TNHH thi công tại khu đô thị Tây Hồ Tây nên biết tòa nhà 901 trong khu đô thị Tây Hồ Tây thuộc phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã thi công xong hệ thống dây điện đến tầng 23 và không có người trông giữ nên D nảy ý định trộm cắp dây điện để tách lõi đồng mang bán lấy tiền tiêu sài. Khoảng 20 giờ ngày 27/8/2019, D đi bộ một mình mang theo 01 con dao (loại dao dọc giấy dài khoảng 18cm) và 01 tô vít đi thang bộ lên tầng 18 của tòa 901, đến khu 3.1 mở cửa tủ điện ngắt attomat để cắt điện rồi dùng tô vít tháo 3 ốc vít ở 3 đầu dây dưới tủ điện, sau đó D đóng cửa lại và dùng tay kéo đầu dây cáp điện màu đen nhãn hiệu CADISUN bên trong có 4 dây điện lõi đồng là tài sản của Công ty TNHH. Sau đó, D tiếp tục đi bộ lên tầng 21 và 23 mở tủ điện để tháo dây cáp điện, D lấy được 1 đoạn cáp điện dài khoảng 17m nối từ tủ điện ở tầng 18 đến tầng 21. D cuộn 02 đoạn cáp điện lại cho vào bao tải dứa màu trắng nhặt ở tầng 21 ném xống trục thang máy tầng 1 của tòa nhà. Sau đó, D tiếp tục sang khu 3.2 tòa nhà 901 dùng tô vít mở tủ điện lấy 01 dây cáp điện màu đen nhãn hiệu CADISUN nối từ tủ điện tầng 21 đến tầng 23 rồi ném vào thang máy xuống tầng 1 và vứt tô vít đi. Sau đó, D đi bộ xuống tầng 1 vào trục thang máy dùng dao dọc giấy mang theo cắt bỏ cao su đen của hai dây cáp lấy được 8 sợi dây điện màu trắng hồng, D tiếp tục dùng dao cắt vỏ 6 dây điện để lấy đồng, còn 1 đoạn dây cáp điện và 02 dây điện màu trắng hồng chưa cắt được vỏ, D để lại ở trục thang máy tầng 1. Số kim loại bằng đồng được bóc ra từ dây cáp điện, D để dưới chân hàng rào bằng tôn ở công trường rồi dùng cành cây phủ lên. Khoảng 6 giờ ngày 28/8/2019, D đi bộ ra vị trí đã cất dấu số dây điện lấy được và mang số lõi kim loại đồng để trong túi nilon màu đen đến cửa hàng thu mua sắt vụn bán cho bị Phạm Thị Ch được 850.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, D quay lại để lấy dây điện, định cắt vỏ mang đi bán tiếp thi bị bảo vệ phát hiện và báo anh Phạm Đa Đức, anh Đức đến hiện trường và dẫn giải D đến Công an phường Cổ Nhuế 1 trình báo. Số dây điện D trộm cắp được là tài sản của Công ty TNHH do chưa hoàn thiện công trình nên chưa bàn giao cho chủ đầu tư. Vật chứng thu giữ: 01 con dao loại dao cắt giấy dài khoảng 18cm; 01 bao tải màu trắng bên trong chứa vỏ cao su màu đen và sợi nilon trắng; 02 đoạn dây điện bằng kim loại màu vàng bên ngoài bọc nhựa trắng kích thước phi 50, dài 17m; 01 đoạn dây cáp điện còn nguyên vỏ cao su màu đen, bên trong có 4 lõi dài 14m, nhãn hiệu Cadisun. Thu giữ của chị Phạm Thị Ch : 02 cuộn dây điện dài khoảng 17m, mỗi sợi trong 2 cuộn gồm nhiều sợi được làm bằng kim loại màu vàng, có trọng lượng khoảng 8kg.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 140 ngày 13/9/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bắc Từ Liêm xác định:
- 02 đoạn dây cáp điện màu đen nhãn hiệu CADISUN có 4 lõi kim loại, mỗi đoạn dài 17m đã qua sử dụng, có giá trị là 8.500.000 đồng.
- 01 đoạn dây cáp điện màu đen nhãn hiệu CADISUN có 04 lõi kim loại dài 14m đã qua sử dụng, có giá trị 3.500.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản là 12.000.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, D khai nhận hành vi như trên và khai mục đích lấy tài sản để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân, số tiền 850.000 đồng D đã tiêu sài cá nhân hết. Khi bán lõi đồng cho chị Ch , D không nói đó là tài sản do trộm cắp được, chị Ch không biết D trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý chị Ch . Công ty TNHH đã nhận lại tài sản, cùng chị Ch không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Tại bản cáo trạng số: 13/CT-VKSBTL ngày 16 tháng 01 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Bùi Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm giữ nguyên quyết định truy tố của bản cáo trạng. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 32 tháng, không phạt bổ sung bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 con dao loại dao cắt giấy; truy thu sung quỹ nhà nước số tiền 850.000 đồng do phạm tội mà có.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Bùi Văn D khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, biên bản thực nghiệm điều tra, vật chứng được thu giữ, kết luận định giá cùng các tài liệu, chứng cứ khác.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 27/8/2019 tại tòa nhà 901 khu công trường Starlake Tây Hồ Tây thuộc phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Bùi Văn D lợi dụng đêm tối, công trường sơ sở trong quản lý tài sản, bị cáo đã chiếm đoạt của Công ty TNHH, gồm: 02 đoạn dây cáp điện màu đen nhãn hiệu CADISUN có 4 lõi kim loại, mỗi đoạn dài 17m đã qua sử dụng, có giá trị là 8.500.000 đồng và 01 đoạn dây cáp điện màu đen nhãn hiệu CADISUN có 04 lõi kim loại dài 14m đã qua sử dụng, có giá trị 3.500.000 đồng.
Hành vi bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá 12.000.000 đồng như trên đã phạm tội“Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì thiếu tiền tiêu sài, bị cáo đã cố ý chiếm đoạt tài sản của chính nơi bị cáo làm việc, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Công ty TNHH, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét bị cáo nhất thời phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, tài sản chiếm đoạt đã trả lại bị hại nên chưa cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo D cũng đủ tác dụng giáo D , cải tạo bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, nên hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH đã được nhận tại tài sản, cùng chị Phạm Thị Ch không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về vật chứng, biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra thu giữ: 01 con dao loại dao cắt giấy dài khoảng 18cm là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội và không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 850.000 đồng bị cáo phạm tội mà có cần truy thu sung quỹ Nhà nước.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn D 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án 14/02/2020. Giao bị cáo D cho Ủy ban nhân dân xã Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo D trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
- Truy thu của bị cáo số tiền 850.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao loại dao cắt giấy dài khoảng 18cm, lưỡi dao bằng kim loại, vỏ ngoài bằng nhựa màu vàng đen (đã qua sử dụng).
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 81/20 ngày 17/01/2020 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Án xử sơ thẩm công khai; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. .
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - TT lý lịch-Sở Tư pháp Hà Nội; - VKSND Q. Bắc Từ Liêm; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an Q. Bắc Từ Liêm; - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm; - Lưu HS - VP | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Văn Quang |