- Tranh chấp gì? án hình sự — "Puih Th phạm tội "Trộm cắp tài sản'' theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Puih Th phạm tội “Trộm cắp tài sản’’;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2020/HS-ST Ngày: 07/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Như Quang
2. Bà Nguyễn Th Mý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Th Thắm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Th Tâm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2020/TLST- HS ngày 10 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Puih Th, sinh ngày 07/9/2000 tại Gia Lai
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Làng B, xã I, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
Chỗ ở trước khi phạm tội: Làng M, xã I, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai
Nghề nghiệp: Không xác định; Trình độ văn hóa 7/12
Dân tộc: Jrai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Rơ Châm Y và bà Puih Ố
Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt ngày 14/11/2019, hiện đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Ia Grai, Gia Lai “Có mặt’’.
- Bị hại:
Anh Puih Ng, sinh năm 2000; trú tại: làng B, xã I, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai (hiện đang bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ- Công an huyện Ia Grai) “Có mặt’’.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Rơ Châm Y, sinh năm 1980; địa chỉ: Làng B, xã I, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai “Có mặt’’.
- Người phiên dịch: Ông Ksor Hrí – Cán bộ Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Grai “Có mặt’’.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Puih Th có hộ khẩu thường trú tại làng B, xã I, huyện Ia Grai, tuy nhiên thường xuyên bỏ đi khỏi nơi cư trú và sống lang thang, trong quá trình đi chơi Th có quen biết anh Puih Ng (sinh năm 2000, chỗ ở làng B, xã I, huyện Ia Grai) và biết Ng có xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 81B2-524.73 nên Th đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Vào khoảng 05 giờ sáng ngày 09/9/2019 khi Th và Ng đi chơi về và ngủ lại tại nhà bà Ksor H (người quen của Ng) ở làng B, xã I, huyện Ia Grai. Lợi dụng lúc Ng đang ngủ, Th đã mở ốp lưng điện thoại của Ng lấy giấy cầm cố giấy tờ xe mô tô biển kiểm soát 81B2-524.73, lấy chìa khóa xe để trên đầu giường ngủ và ra sân dắt xe mô tô của Ng ra đường, điều khiển xe đến tiệm cầm đồ tại phường Yên Thế, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai chuộc lại giấy tờ xe mà Ng đã cầm cố trước đó. Sau đó Th điều khiển xe mô tô 81B2-524.73 đến quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh cầm cố xe mô tô lấy 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) rồi bỏ trốn đến huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu sống lang thang.
Khi Ng ngủ dậy không thấy Th đâu và không thấy xe mô tô nên đã trình báo cơ quan công an. Qua điều tra xác minh, ngày 06/11/2019 Công an huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã mời Th làm việc, tại Cơ quan điều tra Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận số 42/KL-TS ngày 22/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ia Grai, kết luận 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter có giá 28.000.000đ (hai mươi tám triệu đồng).
Quá trình điều tra, Th đã tác động gia đình bồi thường cho anh Ng 01 xe mô tô cùng loại, anh Ngđã nhận tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sự.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 81B2-524.73 quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã có thông báo về việc truy tìm vật chứng, nhưng hiện nay chưa thu giữ được; còn số tiền Th cầm cố xe mô tô mà có hiện nay Th đã tiêu xài cá nhân hết, không thu giữ được.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng số 11/Ctr-VKS ngày 10/3/2020 và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Puih Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Puih Th từ 08 đến 10 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ 14/11/2019.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng: Đã xử lý xong nên không đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Puih Th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 5 giờ 00 phút, ngày 09/9/2019 Puih Th đã lén lút trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển số 81B2-524.73 thuộc quyền sở hữu của anh Puih Ng mang đến quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh cầm cố lấy 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) và bỏ trốn ra huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu sinh sống. Đến ngày 14/11/2019 thì bị bắt tại huyện Ia Grai, Gia Lai và bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại bằng việc bồi thường anh Puih Ng xe mô tô nhãn hiệu Exciter cùng loại.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản’’ theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, Gia Lai là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đó là “Người phạm tội đã bồi thường thiệt hại’’, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng’’, ‘’Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức còn hạn chế và tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cho nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Hội đồng xét xử nhận thấy các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị nêu trên là có căn cứ nên chấp nhận toàn bộ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hạn, tại phiên tòa, anh Puih Ng không yêu cầu gì khác nên không giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Puih Th phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Puih Th phạm tội “Trộm cắp tài sản’’;
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Puih Th 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 14/11/2019.
- Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Puih Th phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đương sự được quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản sao bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Ia Grai; - Chi cục THADS H. Ia Grai; - Công an huyện Ia Grai; - Toà án tỉnh Gia lai; - Người bào chữa (nếu có); - Bị cáo; các đương sự; - Người đại diện (nếu có); - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lưu Anh Tuấn |