vanban.org

Bản án 12/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 12/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Lợi - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!V!
TỈNH!N!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 12/2020/HSST
Ngày 12 tháng 03 năm 2020

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!V,!TỈNH!N!

- Thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà!Thiện!Thành

Các hội thẩm nhân dân:!

Ông Đinh!Công!Hiến!

Ông Đinh!Duy!Quyết!

Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi!Hồng!Mơ!- là thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N tham gia phiên toà: Ông Vũ!Văn!Diệu - Kiểm sát viên

Ngày 12/03/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2020/HSST ngày 14/02/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:

*!Bùi!Văn!L!(Tên gọi khác không), sinh n¨m 1980; tại xã V, huyện Q, tỉnh N; trú tại thôn T, xã V, huyện Q, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân T vµ bµ Đỗ Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/01/2020 đến ngày 16/01/2020. Được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*!Người!làm!chứng:

Anh Nguyễn!Mạnh!H, sinh năm 1984. Vắng mặt tại phiên tòa.

Anh Vũ!Đức!C, sinh năm 1983. Vắng mặt tại phiên tòa.

Anh Bùi!Văn!N, sinh năm 1977. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Văn L có quen biết với V nhà ở xã V, huyện Q, tỉnh N (L không biết họ, tên đệm của V). Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 09/01/2020, V gọi điện thoại cho L nói “Anh xem có chỗ nào lấy hộ em năm, sáu bệ pháo cho anh em G chơi tết” – ý nhờ L mua hộ pháo nổ để đốt trong dịp tết Nguyên Đán Canh Tý. Do trước đó L quen biết một người thanh niên tên H (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) nhà ở khu vực đường T, phường N, thành phố N có pháo nổ để bán với giá 700.000 đồng/bệ pháo, nên đã đồng ý mua pháo cho V. Khoảng 20 giờ ngày 12/01/2020, L thuê xe ô tô biển kiểm soát 30F-***** do anh Bùi Văn N, sinh năm 1977, trú tại thôn B, xã V, huyện Q điều khiển chở L đến xã V, huyện Q để đón V. Sau khi đón V, L yêu cầu anh N điều khiển xe ô tô chở L và V đến khu vực Cầu Đ, xã G, huyện V để V lấy tiền đưa cho L. V xuống xe và đi bộ khoảng 5 phút sau thì quay lại đưa cho L số tiền 4.500.000 đồng để mua pháo nổ, rồi đứng lại chờ L. Sau đó anh N điều khiển xe ô tô chở L đến khu vực đường T, phường N, thành phố N để L tìm mua pháo nổ, đến nơi L xuống xe đi bộ về phía siêu thị Big C, mục đích tìm H để mua pháo. Khi L đi bộ được khoảng 15m thì gặp H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave (không rõ biển kiểm soát) theo hướng ngược chiều. L đưa cho H số tiền 4.500.000 đồng. H cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô đi khoảng 5 phút sau quay lại đưa cho L 01 túi nilon màu đen bên trong có 06 bệ pháo, xác định đó là pháo nổ nên L mang ra xe ô tô của anh N, để anh N điều khiển xe về xã G. Khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, khi L đang đứng đợi V ở khu vực đường tuyến 8, xóm 11, xã G, huyện V, thì gặp Tổ công tác Công an xã G đang làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện và thu giữ của L 01 túi nilon màu đen bên trong có 06 khối hình hộp chữ nhật đều kích thước (14,5x14,5x10)cm, mặt trên các khối hình hộp đều được bọc lớp giấy màu vàng, mặt dưới được bọc lớp giấy màu kaki, bốn mặt đều được bọc lớp giấy có in hình ảnh pháo hoa và nhiều chữ nước ngoài, L khai nhận đó là các bệ pháo nổ vừa đi mua về. Ngoài ra, còn thu giữ của L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen và số tiền 200.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã niêm phong vật chứng là 06 khối hình hộp chữ nhật đều kích thước (14,5x14,5x10)cm, ký hiệu M, gửi đi giám định trọng lượng và chất nổ.

Ngày 13/01/2020, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N tiến hành mở niêm phong, cân xác định trọng lượng và giám định chất nổ.

Tại bản Kết luận giám định số 26/KLGĐ-PC09-ChN ngày 16/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N, kết luận:

- Khối lượng của 06 khối hình hộp chữ nhật bằng giấy ký hiệu M gửi giám định là 8,111 kg.

- 06 khối hình hộp chữ nhật bằng giấy ký hiệu M gửi giám định đều là pháo có đầy đủ các đặc tính của pháo nổ (bên trong có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây ra tiếng nổ).

Hoàn lại đối tượng giám định, gồm: 06 hộp pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, bên trong mỗi hộp có 35 quả pháo hình trụ tròn còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M, tổng khối lượng còn lại của 06 hộp pháo là 7,893kg.

(Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong theo quy định của pháp luật)

Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKS-GV ngày 13/02/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố Bùi Văn L ra trước Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N để xét xử về tội “Tàng!trữ!hàng!cấm”, theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ hàng cấm” là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Tàng!trữ! hàng!cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn L từ 06 tháng đến 09 tháng tù; nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo!Bùi!Văn!L!cho Uỷ ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh N là nơi bị cáo thường trú và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo trong thời gian thử thách.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 hộp catton dán giấy niêm phong theo quy định của pháp luật do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh bàn giao sau giám định bên trong, gồm: 06 hộp pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, bên trong mỗi hộp có 35 quả pháo hình trụ tròn còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M, tổng khối lượng còn lại của 06 hộp pháo là 7,893kg và 01 hộp catton dán giấy niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong đựng: 01 vỏ túi nilon màu đen, hộp catton và giấy gián niêm phong vật chứng ban đầu.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen thu giữ của Bùi Văn L, là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.

Trả lại bị cáo Bùi!Văn!L số tiền 200.000 đồng, là số tiền không liên quan đến việc phạm tội, nhưng vẫn tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu hồi, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 12/01/2020, tại khu vực đường tuyến 8, xóm 11, xã G, huyện V, tỉnh N, bị cáo Bùi Văn L có hành vi cất giấu trái phép 8,111 kilôgam pháo nổ.

Bộ luật Hình sự quy định:

Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…;

c, Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

…

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

[3]. Hành vi của bị cáo Bùi Văn L đã nêu trên là phạm tội "Tàng trữ hàng cấm" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, kinh doanh một số loại hàng cấm, mà còn xâm hại đến nền kinh tế quốc dân, tác động rất xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm minh để giáo dục cải tạo bị cáo và là bài học răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt áp dụng được căn cứ vào tính chất tội phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án để quyết định cho phù hợp.

[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa, đó là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là các tình tiết được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[7]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương, nơi bị cáo thường trú và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để bị cáo học tập trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời vẫn đảm bảo được tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[8]. VÒ h×nh ph¹t bæ sung: XÐt b¶n th©n bÞ c¸o Bùi Văn L nghề nghiệp không ổn định, chưa có gia đình riêng, không có tài sản gì, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nªn kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ xung lµ ph¹t tiÒn ®èi víi bÞ c¸o.

[9]. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Số Pháo thu giữ của Bùi Văn L là 8,111 kg. Sau khi lấy mẫu giám định, khối lượng Pháo còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M, tổng khối lượng còn lại của 06 hộp pháo là 7,893kg, đã được niêm phong trong 01 hộp catton và 01 hộp catton dán giấy niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong đựng: 01 vỏ túi nilon màu đen, hộp catton và giấy gián niêm phong vật chứng ban đầu, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, thu giữ của Bùi Văn L. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Bùi Văn L, L sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của Bùi Văn L, là tài sản hợp pháp của L, không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho L nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

[10]. Về nguồn gốc số pháo nổ L khai mua của nam thanh niên tên là H tại khu vực đường T, phường N, thành phố N. Tuy nhiên, L không biết họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ của người này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được, do đó không có căn cứ để xử lý.

[11] VÒ ¸n phÝ: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] VÒ quyÒn kh¸ng c¸o: Bị cáo cã quyÒn kh¸ng c¸o theo luËt ®Þnh.

V× c¸c lÏ trªn.

QUYẾT!ĐỊNH!

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn L phạm tội "Tàng trữ hàng cấm".

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Bùi!Văn!L!06 (Sáu) tháng tù; nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án ngày 12/3/2020.

Giao bị cáo!Bùi!Văn!L!cho Uỷ ban nhân dân xã V, huyện Q, tỉnh N là nơi bị cáo thường trú và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo trong thời gian thử thách.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp catton dán giấy niêm phong theo quy định của pháp luật do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh bàn giao sau giám định bên trong, gồm: 06 hộp pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, bên trong mỗi hộp có 35 quả pháo hình trụ tròn còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M, tổng khối lượng còn lại của 06 hộp pháo là 7,893kg và 01 hộp catton dán giấy niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong đựng: 01 vỏ túi nilon màu đen, hộp catton và giấy gián niêm phong vật chứng ban đầu.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen thu giữ của Bùi Văn L, là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.

Trả lại bị cáo Bùi!Văn!L số tiền 200.000 đồng, là số tiền không liên quan đến việc phạm tội, nhưng vẫn tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án. (Số tiền trả lại cho bị cáo gửi tại tài sản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V. Đặc điểm các vật chứng tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, tịch thu tiêu hủy theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/02/2020, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.

3. Về án phí:

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Bùi Văn L phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ