- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về dân s áp d ng các điều 584, 585, 586, 589 c a Bộ luật Dân s và Điều 48 c a Bộ luật Hình s : Buộc bị cáo Vũ Đức A phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị L2 số tiền là 10.
- Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật Hình s; Điều 51 Bộ luật Hình s; Điều 173 Bộ luật Hình s
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------------------------------------------------------------- Bản án số: 12/2020/HS-ST Ngày: 18-02-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Công Hạ
Ông Bùi Đức Khoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2020, tại tr s Tòa án nhân dân huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng xét x s th m công khai v án hình s s th m th lý số: 13/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa v án ra xét x số: 12/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Vũ Đức A, sinh ngày 04 tháng 02 năm 1992 tại thành phố Hải Phòng; N i cư trú: Thôn 10, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động t do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn M, sinh năm 1969 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1972; Đã ly hôn chị Phạm Thị L1 và có 01 con sinh năm 2012; Tiền án: Không; Tiền s : Quyết định số 213/QĐ-TA ngày 23/6/2017 c a Tòa án nhân dân huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng áp d ng biện pháp x lý hành chính đưa vào c s cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng, chấp hành xong ngày 07/02/2019; Nhân thân: Quyết định số 10/QĐ-XPVPHC ngày 27/12/2019 c a Công an huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng x phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản ngày 12/8/2019, hình thức x phạt tiền 1.500.000 đồng; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/12/2019; có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1985; N i cư trú: Thôn 9, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Vũ Đức A là người nghiện ma túy. Do gần nhà chị Nguyễn Thị L2 thôn 9, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng nên Vũ Đức A biết tại gian nhà kho bãi sản xuất gạch c a chị Nguyễn Thị L2 có chứa các thiết bị dùng để sản xuất gạch, buổi trưa không có người trông coi nên Vũ Đức A đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền ăn tiêu. Th c hiện ý định trên, khoảng 13 giờ ngày 15/8/2019 Vũ Đức A mượn xe mô tô nhãn hiệu Airblade màu đen biển số 15G1-217.97 c a bạn gái là chị Bùi Thị N1 đi đến bãi gạch nhà chị Nguyễn Thị L2. Quan sát thấy c a nhà kho m , không có người trông coi, Vũ Đức A đi vào trong gian nhà kho lấy 02 quả đầm rung bằng gang hình tr màu ghi xám, dài 40cm, đường kính 20cm rồi cho lên xe máy mang đi tiêu th . Khi đến khu v c ngã ba T1, xã T2, huyện T, Vũ Đức A gặp một người đàn ông thu mua phế liệu. Vũ Đức A đã bán 02 quả đầm rung cho người đàn ông này được 600.000 đồng. Khoảng 13 giờ ngày 16/8/2019, Vũ Đức A tiếp t c điều khiển xe mô tô biển số 15G1-217.97 đến bãi gạch nhà chị Nguyễn Thị L2, vào trong gian nhà kho lấy 02 quả đầm rung hình tr dài 40cm, đường kính 20cm ch đi tiêu th . Khi đến khu v c cây xăng tỉnh lộ 352 thuộc xã T1, huyện T, Vũ Đức A đã gặp và bán 02 quả đầm rung cho một người đàn ông thu mua phế liệu được 700.000 đồng. Tổng số tiền Vũ Đức A bán 04 quả đầm rung là 1.300.000 đồng, Vũ Đức A đã mua ma túy s d ng hết. Ngày 21/8/2019, chị Nguyễn Thị L2 kiểm tra camera tại khu v c nhà kho bãi sản xuất gạch, phát hiện 01 đối tượng nam giới đi xe mô tô nhãn hiệu Airblade màu đen biển số 15G1-217.97 đã lấy 04 quả đầm rung vào các ngày 15 và 16/8/2019 c a mình nên đã làm đ n trình báo C quan Công an.
C quan Công an đã tiến hành xác định hiện trường, thu giữ dữ liệu hình ảnh camera tại khu v c nhà kho c a gia đình chị Nguyễn Thị L2, ghi nhận hình ảnh Vũ Đức A th c hiện hành vi chiếm đoạt 04 quả đầm rung c a chị Nguyễn Thị L2 vào các ngày 15 và 16/8/2019. Tiến hành khám xét kh n cấp n i và khu v c có liên quan c a Vũ Đức A thu giữ: 01 quần bò dài màu xanh, 01 áo phông ngắn tay cổ tròn màu đen, 01 quần đùi màu đen và 01 đôi dép nh a đều đã qua s d ng, là trang ph c Vũ Đức A mặc khi th c hiện hành vi chiếm đoạt tài sản c a chị Nguyễn Thị L2.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 104/HĐĐGTS ngày 16/9/2019 c a Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình s huyện Th y Nguyên kết luận: 02 quả đầm rung Vũ Đức A chiếm đoạt c a chị Nguyễn Thị L2 ngày 15/8/2019 trị giá 5.000.000 đồng; 02 quả đầm rung Vũ Đức A chiếm đoạt c a chị Nguyễn Thị L2 ngày 16/8/2019 trị giá 5.000.000 đồng. Tổng giá trị 04 quả đầm rung Vũ Đức A chiếm đoạt c a chị Nguyễn Thị L2 là 10.000.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 204/KLGĐ ngày 28/11/2019 c a Phòng Kỹ thuật hình s Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Hình ảnh camera g i giám định không bị cắt ghép, s a chữa. C quan điều tra tiến hành m camera cho ông Vũ Văn M, bà Nguyễn Thị N và chị Bùi Thị N1 (là cha, mẹ và bạn gái Vũ Đức A) nhận dạng và xác định người nam giới chiếm đoạt 04 quả đầm rung c a chị Nguyễn Thị L2 vào các ngày 15 và 16/8/2019 là Vũ Đức A.
Về dân s : Chị Nguyễn Thị L2 yêu cầu Vũ Đức A bồi thường số tiền 10.000.000 đồng là giá trị 04 quả đầm rung bị chiếm đoạt.
Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Vũ Đức A về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 c a Bộ luật Hình s .
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận đã th c hiện hành vi như nội dung nêu trên và đồng ý với tội danh mà Kiểm sát viên luận tội, kết tội đối với bị cáo, chấp nhận bồi thường nhưng đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại trình bày đúng như nội dung v án đã được tóm tắt trên, yêu cầu bị cáo bồi thường 10.000.000 đồng và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật và đề nghị Hội đồng xét x : Áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 c a Bộ luật Hình s , x phạt bị cáo Vũ Đức A với mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Không áp d ng phạt bổ sung đối với bị cáo. Về bồi thường thiệt hại áp d ng các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân s và Điều 48 Bộ luật Hình s buộc bị cáo Vũ Đức A phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị L2 số tiền là 10.000.000 đồng. X lý vật chứng áp d ng Điều 47 c a Bộ luật Hình s và Điều 106 c a Bộ luật Tố t ng hình s tịch thu tiêu h y vật chứng đã thu giữ. Bị cáo phải nộp án phí hình s và dân s s th m theo quy định c a pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố t ng:
Các hành vi, quyết định tố t ng c a c quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng trong quá trình điều tra, truy tố, xét x đều hợp pháp.
- Về tội phạm mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo:
Lời khai c a bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại c quan điều tra, phù hợp với phù hợp với lời khai c a bị hại, kết luận định giá tài sản, kết luận giám định, biên bản xác định hiện trường, lời khai c a người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ s v án. Vì vậy, đã có đ c s để kết luận như sau: Bị cáo Vũ Đức A lợi d ng s h , không có người trông coi tài sản c a chị Nguyễn Thị L2, ngày 15/8/2019 đã lén lút chiếm đoạt 02 quả đầm rung trị giá 5.000.000 đồng, ngày 16/8/2019 đã lén lút chiếm đoạt 02 quả đầm rung trị giá 5.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Vũ Đức A đã chiếm đoạt là 10.000.000 đồng. Nên hành vi c a các bị cáo Vũ Đức A đ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 c a Bộ luật Hình s . Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2020 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Th y Nguyên truy tố bị cáo như đã nêu trên và lời luận tội, kết tội c a Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật.
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng c a hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình s , tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s , nhân thân c a bị cáo và hình phạt áp d ng:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình s : Bị cáo phạm tội 02 lần tr lên nên bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình s được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 c a Bộ luật Hình s . Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s : Bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải và bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật Hình s . Về nhân thân c a bị cáo: Bị cáo nghiện ma túy, có tiền s thể hiện bị cáo có nhân thân xấu.
Tính chất c a v án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm đã xâm phạm tài sản c a người khác được pháp luật bảo vệ gây mất trật t trị an xã hội. Vì vậy thấy cần thiết phải áp d ng hình phạt tù trên mức kh i điểm c a khung hình phạt đối với bị cáo. Như vậy mức hình phạt chính mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ hình s và có hoàn cảnh khó khăn nên không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về những vấn đề khác:
Về dân s : Chị Nguyễn Thị L2 yêu cầu bị cáo Vũ Đức A bồi thường số tiền 10.000.000 đồng là giá trị 04 quả đầm rung bị chiếm đoạt và bị cáo Vũ Đức A chấp nhận bồi thường. Áp d ng các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân s và Điều 48 Bộ luật Hình s buộc bị cáo Vũ Đức A phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị L2 số tiền là 10.000.000 đồng.
Về x lý vật chứng áp d ng Điều 47 Bộ luật Hình s và Điều 106 Bộ luật Tố t ng Hình s : Tịch thu tiêu h y 01 quần bò dài màu xanh, 01 áo phông ngắn tay cổ tròn màu đen, 01 quần đùi màu đen và 01 đôi dép nh a đều đã qua s d ng là vật liên quan đến tội phạm và không còn giá trị s d ng.
Trong v án này: Chị Bùi Thị N1 cho Vũ Đức A mượn xe mô tô biển số 15G1-217.97, chị Bùi Thị N1 không biết Vũ Đức A s d ng xe mô tô c a mình để th c hiện hành vi phạm tội nên C quan điều tra không x lý. Đối với hai người nam giới có hành vi mua 04 quả đầm rung mà Vũ Đức A trộm cắp c a chị Nguyễn Thị L2, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên C quan điều tra tách ra để x lý sau. Đối với hành vi trưa ngày 12/8/2019, Vũ Đức A chiếm đoạt 01 máy b m nước và 20 m dây b m trị giá 1.700.000 đồng c a anh Vũ Duy H tại xã L, huyện T, Hải Phòng sau đó sang khu v c đường tàu nội thành Hải Phòng bán cho một người ph nữ không quen biết với giá 400.000 đồng, Công an huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng đã ra Quyết định số 10/QĐ-XPVPHC ngày 27/12/2019 x phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức x phạt tiền 1.500.000 đồng.
Bị cáo phải nộp án phí hình s và dân s s th m theo quy định c a pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 c a Bộ luật Hình s , x phạt: Vũ Đức A 24 (hai mư i bốn) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giam ngày 02/12/2019.
Về dân s áp d ng các điều 584, 585, 586, 589 c a Bộ luật Dân s và Điều 48 c a Bộ luật Hình s : Buộc bị cáo Vũ Đức A phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị L2 số tiền là 10.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án c a người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi c a số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 c a Bộ luật Dân s , trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về x lý vật chứng áp d ng Điều 47 Bộ luật Hình s và Điều 106 Bộ luật Tố t ng Hình s : Tịch thu tiêu h y 01 quần bò dài màu xanh, 01 áo phông ngắn tay cổ tròn màu đen, 01 quần đùi màu đen và 01 đôi dép nh a đều đã qua s d ng. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/01/2020 c a Chi c c Thi hành án dân s huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng).
Về án phí áp d ng Điều 136 Bộ luật Tố t ng Hình s ; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Ủy ban thường v Quốc hội: Buộc bị cáo Vũ Đức A phải nộp 200.000 đồng án phí hình s s th m và 500.000 đồng án phí dân s s th m. Tổng số tiền án phí bị cáo Vũ Đức A phải nộp là 700.000 đồng.
Về quyền kháng cáo áp d ng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố t ng hình s : Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì người được thi hành dân s , người phải thi hành dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân s .
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; -VKSND thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng; -VKSND huyện Th y Nguyên; - Chi c c THADS huyện Th y Nguyên; - CQCSĐT Công an huyện Th y Nguyên; - Chính quyền cấp xã n i bị cáo cư trú; - Bị cáo; Người tham gia tố t ng khác; - S tư pháp thành phố Hải Phòng; - Phòng PV06, PC10; - Lưu: VT; HCTP; Hồ s v án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Trung Hiếu |