CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM! HUYỆN!PHÚ!QUỐC! TỈNH KIÊN GIANG Bản án số:12/2020/HS-ST |
Ngày: 07/02/2020
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!PHÚ!QUỐC!–!TỈNH!KIÊN!GIANG!
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:!
Thẩm"phán"–"Chủ"toạ"phiên"tòa: Ông!Trương!Quốc!Triều!
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"
!
!
1/!Ông!Trần!Văn!Thuận!
!
!
2/!Ông!Ngô!Rạng!Đông!
-Thư ký phiên tòa: Bà! Nguyễn! Hồng! Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông!Nguyễn!Trúng!- Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Đỗ!Văn!H,!sinh năm: 1959, tại: T N, Cần Thơ; Nơi ĐKTT: ấp T M, xã T L, quận T N, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: sửa xe; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Văn T và bà Hà Thị L; Vợ: Đặng Thị Nh; Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án: không
Tiền sự: 01 lần, ngày 8/10/2019 bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Dương Tơ huyện Phú Quốc xử phạt 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản, chưa nộp phạt.
Về nhân thân: Ngày 10/6/2008 Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử tuyên phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã xóa án tích
Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 13/10/2019. (có mặt)
Bị"hại: Trần Đình Th, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Chổ ở: ấp S M, xã D T, huyện P Q, tỉnh Kiên Giang
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ, ngày 11/10/2019, sau khi nhậu với một người bạn tên B (không rõ nhân thân) thì Đỗ Văn H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán để tiêu xài cá nhân nên đi bộ đến nhà trọ “M T”, thuộc ấp Suối Mây, xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc, cách chòi H đang ở khoảng 01 km, tìm tài sản để lấy trộm. Khi đến nơi, H nhìn thấy cổng nhà trọ không khóa cửa, bên trong sân có nhiều xe mô tô đang đậu không có người trông giữ. H đi vào bên trong thì phát hiện có một chiếc xe hiệu Air Blade, màu đen, biển kiềm soát XX.X..XX của anh Trần Đình T không có khóa cổ xe nên H dẫn bộ chiếc xe về chòi của H đang ở, rồi dùng kiềm tháo bỏ biển kiểm soát để tránh phát hiện và giấu xe vào bụi cây gần đó đợi tìm người tiêu thụ. Đến ngày 13/10/2019, H bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Ngày 14/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Phú Quốc khởi tố tạm giam Đỗ Văn H để điều tra.
*Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Air Blade màu đen, biển kiể m soát XX.-X..X, số khung: 46…….4, số máy: JF……88, đã trả cho chủ sở hữu. Riêng biển kiểm soát bị tháo rời đã bị thất lạc không thu giữ được.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐGTS ngày 18/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Quốc kết luận:
Xe mô tô nhãn hiệu Hon da, số loại Air Blade, màu đen, biển số XX.-X..X, số khung: 46…….4, số máy: JF……88, trị giá 24.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá số 66/KL-HĐĐGTS ngày 18/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Bản cáo trạng số 13/CT-VKSPQ ngày 06 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc đã truy tố bị cáo Đỗ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015.
Phần tranh luận, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đỗ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015.
Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 BLHS; Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo Đỗ Văn H từ 09 đến 12 tháng tù
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng viện kiểm sát truy tố và Lời nói sau cùng của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên"cơ"sở"nội"dung"vụ"án,"căn"cứ"vào"các"tài"liệu"trong"hồ"sơ"vụ"án"đã" được"tranh"tụng"tại"phiên"tòa,"Hội"đồng"xét"xử"nhận"định"như"sau:!
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đánh giá chứng cứ: Do cần tiền tiêu xài nên vào khoảng 03 giờ ngày 11/10/2019 tại nhà trọ M T thuộc ấp Suối Mây, xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc Đỗ Văn H lợi dụng sự sơ hở của anh Trần Văn T lén lút lấy trộm xe môt tô hiệu Air Blade, màu đen, biển số XX.-X..X của anh T.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐGTS ngày 18/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Quốc kết luận:
Xe mô tô nhãn hiệu Hon da, số loại Air Blade, màu đen, biển số XX.-X..X, số khung: 46…….4, số máy: JF……88, trị giá 24.000.000 đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Đỗ Văn H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Về nhân thân bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất xử phạt 06 tháng tù về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 08/10/2019 bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Dương Tơ xử phạt 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo vẫn không từ bỏ hành vi trộm cắp mà lại tiếp tục phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, nghị cần xử bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
[5] Về xử lý vật chứng: đã trả cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
1.Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Đỗ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Đỗ Văn H 09 (chín) tháng tù về tội trộm cắp tài sản.Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/10/2019.
2. Về xử lý vật chứng: đã trả cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại vắng mặt nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; !! -!Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; -VKSND huyện Phú Quốc; - Nhà tạm giữ huyện Phú Quốc; - Đội tổng hợp CA huyện PQ; - THA huyện Phú Quốc; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! ! !!!!!!!!Thẩm!phán!-!Chủ!toạ!phiên!toà Trương!Quốc!Triều !!!! |