vanban.org

Bản án 12/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Konplong, tỉnh Kon Tum Tuyên án 31/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KON PLÔNG
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2020/HS-ST
Ngày: 31/12/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KON PLÔNG, TỈNH KON TUM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xong.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đinh Su Giang.

2/ Bà Nguyễn Lệ Thu.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hiệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kon Plông;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Vũ Kiên Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: CAO VĂN Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh năm: 199x tại Nghệ An.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Nơi ĐKHKTT: Phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An;

Chỗ ở hiện nay: Số nhà …, ngõ …, khối .., phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An;

Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 06/11/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tuyên phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 theo Bản án số 447/2015/HSST. Bị can đã chấp hành xong hình phạt tù vào năm 2015; chấp hành xong nghĩa vụ nộp án phí vào ngày 06/09/2016. Tính đến ngày phạm tội mới ngày 26/05/2020, bị cáo đã được xóa án tích. Tháng 6/2016 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc. Tháng 8/2018 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Họ tên cha: Cao Văn Tr (đã chết);

Họ tên mẹ: Chu Thị H;

Sinh năm: 197x.

Hiện đang sinh sống tại: Số nhà …, ngõ …, khối .., phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An;

Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là người con thứ nhất.

Bị cáo Cao Văn Đ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 27/05/2020, tạm giam từ ngày 01/06/2020 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Nguyễn Trung P, sinh năm 197x; nơi cư trú: Đường P, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Những người làm chứng:

1/ Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 198x; nơi cư trú: Tổ dân phố …, thị trấn M, huyện K, tỉnh Kon Tum (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2/ Anh Bùi Minh T1, sinh năm 197x; nơi cư trú: Khu …, thị trấn M, huyện K, tỉnh Kon Tum (có mặt tại phiên toà).

3/ Anh Nguyễn Xuân K, sinh năm 199x; nơi cư trú: Tổ dân phố …, thị trấn M, huyện K, tỉnh Kon Tum (vắng mặt tại phiên toà).

4/ Anh Võ Huỳnh Nh, sinh năm 200x; nơi cư trú: Thị trấn M, huyện K, tỉnh Kon Tum (vắng mặt tại phiên toà).

5/ Anh A T2, sinh năm 200x; nơi cư rú: Trường Phổ thông dân tộc nội trú huyện K (vắng mặt tại phiên toà).

6/ Anh Bùi Anh Q, sinh năm 200x; nơi cư rú: Trường Phổ thông dân tộc nội trú huyện K (vắng mặt tại phiên toà).

7/ Chị Xa Thị Đan Ph, sinh năm 199x; nơi cư trú: Thôn B, xã P, huyện N, tỉnh Kon Tum (vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 26/5/2020, Cao Văn Đ cùng Hoàng Nghĩa T (sinh năm 199x), Nguyễn Mạnh H (sinh năm 198x), Nguyễn Xuân K (sinh năm 199x), Vũ Thị L (sinh năm 199x), Đoàn Mạnh Tr (sinh năm 199x), Bùi Minh T1 (sinh năm 197x), (cùng trú tại thị trấn M, huyện K, tỉnh Kon Tum), Võ Huỳnh Nh (sinh năm 200x), Bùi Anh Q (sinh năm 200x), A T2 (sinh năm 200x) (cùng là học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú huyện K) và một số người (chưa xác định được lai lịch) đi hát karaoke tại quán Diêm Phố (đường Võ Thị Sáu, thị trấn M, huyện K, tỉnh Kon Tum). Tại quán karaoke, giữa Hoàng Nghĩa T và chị Xa Thị Đan Ph (sinh năm 199x, là nhân viên quán karaoke Diêm Phố) xảy ra mâu thuẫn, T dùng tay, chân đánh và ném 01 ly uống bia vào người chị Ph, mọi người can ngăn Tuấn nhưng không được. Từ trong quán, T cầm theo 01 (một) con dao (loại dao bấm) với mục đích đuổi đánh chị Ph. Thấy vậy, Cao Văn Đ chạy tới dùng tay xô đẩy chị Ph ra ngoài đường Võ Thị Sáu, rồi Đ bỏ vào trong quán. T bắt kịp và dùng tay, chân đánh chị Ph. Lúc đó, Nguyễn Trung P (sinh năm 197x, là Đội phó Đội điều tra - Công an huyện Kon Plông) có mặt tại hiện trường vụ việc, lúc này anh P không mặc trang phục ngành Công an. Khi phát hiện đối tượng Hoàng Nghĩa T (là đối tượng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Kon Plông đang điều tra trong một vụ án khác), anh P yêu cầu Hoàng Nghĩa T dừng ngay hành vi vi phạm pháp luật và về trụ sở Cơ quan công an huyện để làm việc. Tuy nhiên, Hoàng Nghĩa T có thái độ bất hợp tác và có cầm dao trong tay. Thấy vậy, anh P gọi điện cho một số đồng chí trong Công an huyện Kon Plông ra hỗ trợ. Lúc đó, Cao Văn Đ từ trong quán ra và hỏi T: “Có chuyện gì vậy anh?”, Tuấn nói: “Có chuyện rồi em ạ, về lấy đồ đi em”. Cao Văn Đ hiểu ý của Tuấn là muốn đánh nhau nên lấy 01 xe mô tô Jupiter (không nhớ biển số) chạy về phòng trọ của Đoàn Mạnh Tr (ở khu vực đối diện trường Phổ thông dân tộc nội trú huyện Kon Plông). Đ lấy 01 (một) con dao và 01 (một) cái quẹt lửa hình dạng như khẩu súng ngắn trong phòng rồi quay lại quán Diêm Phố. Đến nơi, thấy T vẫn đang nói qua lại to tiếng với anh P, Đ liền cầm dao chạy tới, tay phải cầm dao, tay trái cầm quẹt lửa hình khẩu súng, rồi lao về phía anh P và những người khác đang đứng chém mấy nhát nhưng không trúng ai. Đ tiếp tục cầm dao lao về phía anh P. Thấy vậy, anh P lùi về phía sau thì bị vấp ngã xuống rãnh nước bên đường. Đang đà lao tới, Đ giơ dao lên chém 01 (một) nhát theo hướng từ trên xuống về phía người anh P, anh P giơ tay phải lên để đỡ thì phần lưỡi dao cắt trúng cánh tay phải. Lúc này, lực lượng công an huyện đã có mặt và nổ súng khống chế Cao Văn Đ và Hoàng Nghĩa T nhưng hai đối tượng này đã nhanh chóng bỏ chạy khỏi hiện trường. Sau khi gây án, Đ vứt con dao và quẹt (lửa) hình dạng như khẩu súng tại hiện trường và đã bị thu giữ. Anh P được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện 211, tỉnh Gia Lai. Đến sáng ngày 27/5/2020, Cao Văn Đ bị bắt, tạm giữ. Hoàng Nghĩa T sau đó đã trốn khỏi địa phương.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Kon Plông đã thu giữ được:

+ 01 con dao dài 42 cm, cán bằng nhựa dài 08 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 35 cm; con dao này do Cao Văn Đ mua tại chợ huyện Kon Plông với mục đích để sử dụng cá nhân. Sau khi mua, Cao Văn Đ đã bí mật giấu dưới gầm giường tại phòng trọ của Đoàn Mạnh Tr và sử dụng để gây thương tích cho anh Nguyễn Trung P vào ngày 26/5/2020.

+ 01 quẹt (lửa) hình dạng khẩu súng dài 38 cm, do Cao Văn Đ lấy trong phòng của Đoàn Mạnh Trường và không biết đây là tài sản của ai.

Các vật chứng này đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum.

Tại Bản Kết luận Giám định pháp y về thương tích số 101/20/TgT ngày 01/6/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận anh Nguyễn Trung P bị: Một vết thương phần mềm + Vết mổ hai đầu vết thương mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải đã khâu, chưa cắt chỉ; Mẻ 1/3 dưới xương quay tay phải; Rách tĩnh mạch cẳng tay phải đã khâu nối không có biểu hiện thiếu máu nuôi dưỡng phía dưới vết thương cẳng tay phải; Vết thương cẳng tay phải đứt gân duỗi ngón II, III, IV đã khâu nối điện cơ có kết luận tổn thương nhánh thần kinh quay tay phải (thần kinh gian cốt sau). Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 22% (hai mươi hai phần trăm). Về cơ chế hình thành vết thương: Do sự tác động trực tiếp của ngoại lực; Vật gây thương tích: Vật sắc có cạnh bén.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Cao Văn Đ từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/05/2020.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao dài 42 cm, cán bằng nhựa dài 08 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 35 cm. 01 quẹt (lửa) hình dạng khẩu súng dài 38 cm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn Trung P số tiền 10.000.000 đồng. Anh P không có yêu cầu bồi thường gì thêm đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét,

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không đưa ra ý kiến về hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có khiếu nại gì đối với Bản Kết luận Giám định pháp y về thương tích số 101/20/TgT ngày 01/6/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai, không tự bào chữa cho hành vi của mình và không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Người bị hại anh Nguyễn Trung P có đơn xét xử vắng mặt. Theo nội dung đơn không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và đề nghị hội đồng xét xử xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, bị cáo hối hận về hành vi của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình, cộng đồng và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kon Plông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Plông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, của người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 26/5/2020, tại trước quán Karaoke Diêm Phố, đường Võ Thị Sáu, thị trấn M, huyện K, tỉnh Kon Tum, mặc dù không biết anh Nguyễn Trung P là ai và không có mâu thuẫn gì với anh Nguyễn Trung P nhưng Cao Văn Đ đã dùng dao (là hung khí nguy hiểm) chém vào tay phải của anh Nguyễn Trung P gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 22%.

. Cao Văn Đ đã dùng dao là “Hung khí nguy hiểm” chém anh Nguyễn Trung P gây thương tích, mặc dù hai người không quen biết, không mẫu thuẫn gì với nhau chứng tỏ hành vi Cao Văn Đ “Có tính chất côn đồ”. Đây là các tình tiết định khung quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Với tỷ lệ thương tích và các tình tiết định khung nêu trên, hành vi của Cao Văn Đ đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Plông đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét thấy khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại mặc dù không quen biết, không mâu thuẫn gì với bị cáo. Chứng tỏ bị cáo đã xâm phạm quyền bảo vệ sức khỏe của con người, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trên địa bàn. Do vậy cần xử phạt bị cáo nghiêm minh tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra để trừng trị, giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, được thực hiện với lỗi cố ý.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) cho bị hại; bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết được quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao dài 42 cm, cán bằng nhựa dài 08 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 35 cm; con dao này do Cao Văn Đ mua tại chợ huyện Kon Plông với mục đích để sử dụng cá nhân. Sau khi mua, Cao Văn Đ đã bí mật giấu dưới gầm giường tại phòng trọ của Đoàn Mạnh Tr và sử dụng để gây thương tích cho anh Nguyễn Trung P vào ngày 26/5/2020. Đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 quẹt (lửa) hình dạng khẩu súng dài 38 cm, do Cao Văn Đ lấy trong phòng của Đoàn Mạnh Trường và không biết đây là tài sản của ai. Đây là công cụ có liên quan đến hành vi phạm tội của Cao Văn Đ và là vật cấm lưu hành nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn Trung P số tiền 10.000.000 đồng. Anh Nguyễn Trung P không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Đối với Hoàng Nghĩa T: Quá trình điều tra, Cao Văn Đ có khai: Khi Đ từ trong quán Karaoke đi ra thấy T đang cãi, la hét với một người đàn ông, Đ nói với T “Có việc gì đấy” thì T nói Đ về lấy hàng – tức là dao, để đánh nhau và khi Đ cầm dao đến hiện trường, thì nghe Tuấn nói “Chém chết cha hắn đi” nên Đ mới cầm dao xông vào chém và gây thương tích cho anh Nguyễn Trung P. Tuy nhiên tại phiên tòa Đ khai không biết ai nói câu “Chém chết cha hắn đi” vì lúc đó rất đông người ồn ào, quây quanh T. Sau khi sự việc xảy ra Hoàng Nghĩa T đã trốn khỏi địa phương hơn nữa Hoàng Nghĩa T đang bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Kon Plông truy nã về tội “Xâm phạm chỗ ở của người khác” đến nay chưa bắt được. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Kon Plông chưa tiến hành làm việc được với Hoàng Nghĩa T để xác định có hay không hành vi khởi xướng trong vụ án theo như lời khai của Cao Văn Đ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Kon Plông tiếp tục truy tìm, làm việc với Hoàng Nghĩa T và sẽ xử lý sau khi có căn cứ.

Ngoài ra, trong đêm ngày 27/5/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Kon Plông đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Hoàng Nghĩa T và Vũ Thị L tại quán Family, thị trấn M, huyện K, phát hiện trên trần nhà có cất giấu 01 khẩu súng tiểu liên CKC, 01 khẩu súng tự chế bắn đạn ghém cỡ 12 và 09 viên đạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo Điều 304 Bộ luật hình sự và chuyển toàn bộ hồ sơ cho Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh Kon Tum để giải quyết theo thẩm quyền.

. Đối với chị Xa Thị Đan Ph, bị Hoàng Nghĩa T đánh bằng tay, chân, bị Cao Văn Đ xô đẩy bằng tay, chân, gây ra một số thương tích ở trán, gáy, đầu gối. Tuy nhiên, chị Ph chỉ bị thương tích nhẹ và không yêu cầu xử lý nên không có căn cứ để xem xét.

. Đối với việc Cao Văn Đ tự ý vào phòng của Đoàn Mạnh Tr lấy đi 01 con dao và 01 quẹt lửa hình khẩu súng do phòng của Tr không khóa. Đoàn Mạnh Tr không biết sự việc trên nên không có căn cứ xử lý về hành vi giúp sức.

. Đối với những đối tượng đi cùng Hoàng Nghĩa Tuấn và Cao Văn Đ, khi sự việc xảy ra, những đối tượng này chỉ đứng ngoài nhìn, không tham gia, không hô hào, không kích động. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý.

. Đối với A T2 và Bùi Anh Q, khi thấy có sự việc lộn xộn đã cùng nhau về phòng ở tại Ký túc xá Trường phổ thông dân tộc nội trú huyện K để ngủ. Sau đó, Cao Văn Đ chạy đến nhờ xin giúp đỡ vì công an đang tìm. Q và T2 đã lấy cho Đ mượn 01 bộ quần áo để thay. Q và T2 không biết việc Cao Văn Đ đã gây thương tích cho anh Nguyễn Trung P trước đó nên không đủ cơ sở để xử lý về hành vi “Che giấu tội phạm”.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Cao Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Cao Văn Đ 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/05/2020.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) con dao dài 42 cm, cán bằng nhựa dài 08 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 35 cm; 01 quẹt (lửa) hình dạng khẩu súng dài 38 cm.

(Chi tiết vật chứng trong vụ án được thể hiện theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16 tháng 11 năm 2020 và ngày 24/12/2020 giữa cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum với Chi cục thi hành án dân sự huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Cao Văn Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (31/12/2020). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ