vanban.org

Bản án 12/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 28/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn M 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Phạm Văn M chấp hành án phạt tù. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Phạm Văn M nộp 200.000 đồng (Hai … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2020/HS-ST
Ngày 28 tháng 4 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Sách.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tuấn Lam.

Ông Nguyễn Văn Ta.

-"Thư"ký"phiên"tòa: Ông Dương Thành Tâm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

-"Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"huyện"H,"tỉnh"Đồng"Tháp"tham"gia" phiên"tòa: Ông Trần Thanh Tùng - Kiểm sát viên, ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2020/TLHS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

* Phạm Văn M (tên gọi khác: T), sinh năm 1995 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp 1, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 4/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Văn T, sinh năm: 1968 và bà: Phan Thị M, sinh năm: 1968; Tiền án: Chưa có; Tiền sự: Ngày 21-8-2018 bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau, với số tiền 750.000 đồng (chưa nộp phạt), đến ngày 15-12-2019 bị Công an xã T, huyện H xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, với số tiền 1.500.000 đồng (chưa nộp phạt), (tính đến ngày thực hiện hành vi trộm lần này chưa hết thời hiệu thi hành theo quy định); Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

- Người"bị"hại: Ông Phạm Văn B sinh năm: 1931 (ông Nội của M). (Có mặt)

Cư trú: ấp 1, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

-"Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan"đến"vụ"án:"

1. Nguyễn Chí L, sinh năm 1997. (Có mặt)

Cư trú: ấp 1, xã T,, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

2. Nguyễn Chí C, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

Cư trú: ấp C, xã T,, huyện H, tỉnh, Đồng Tháp.

- Người"làm"chứng: Trần Văn Q, sinh năm 1950. (vắng mặt)

Cư trú: ấp 1, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Ngày 21-8-2018 Phạm Văn M bị Công an huyện H, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau, với số tiền 750.000 đồng (chưa nộp phạt), đến ngày 15-12-2019 bị Công an xã T, huyện H xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, với số tiền 1.500.000 đồng (chưa nộp phạt), tính đến ngày thực hiện hành vi trộm lần này chưa hết thời hiệu thi hành theo quy định) - nay lại tiếp tục phạm tội, Cụ thể:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20-12-2019, bị cáo Phạm Văn M đi chơi về và ghé nhà ông Phạm Văn B (ông nội của M), thuộc ấp 1, xã T, huyện H để chơi và ăn cơm cùng ông B, sau khi ăn cơm xong bị cáo M đi đến nhà ông Trần Văn Q (gần đó) lên nằm võng xem ti vi, còn ông B dẹp mâm cơm và lấy điện thoại nhãn hiệu Samsung J320, màu vàng của ông đem để trên kệ gỗ trong nhà, ghim điện sạt pin rồi ra võng nằm ngủ. Khoảng 10 phút sau bị cáo M từ nhà ông Q đi trở lại và vào nhà ông B thì thấy điện thoại ông B đang để sạt pin trên kệ gỗ nên nảy sinh ý thức trộm và đi đến dùng tay rút dây điện sạt pin ra, lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi đi ra khỏi nhà và đi đến nhà của Nguyễn Chí L (thuộc ấp 1, xã T, huyện H) nhờ L đem điện thoại vừa trộm đi cầm tại tiệm điện thoại di động “Chí C” thuộc ấp C, xã T, huyện H) với số tiền 800.000 đồng, bị cáo M cho L 40.000 đồng, còn 760.000 đồng bị cáo M tiêu xài cá nhân hết. Phần ông B thì đến khoảng 12 giờ cùng ngày phát hiện điện thoại của mình bị mất và nghi là M (cháu nội ông) lấy cắp nên ông trình báo Công an xã T, Công an xã T tiến hành đến hiện trường, thu thập chứng cứ, tài liệu có liên quan và sau đó mời bị cáo M về trụ sở làm việc. Tại đây bị cáo M thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp điện thoại của ông B.

Vật chứng thu giữ được: Một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J320, màu vàng gold, đã qua sử dụng. (do anh Nguyễn Chí C giao nộp)

2

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 01/KLĐG-TTHS ngày 10-01-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: Một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J320, màu vàng gold, đã qua sử dụng (Bị cáo M trộm của ông B), trị giá 900.000 đồng.

Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn M thừa nhận lấy trộm điện thoại nêu trên là để đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Tại phiên tòa lời nói sau cùng của bị cáo Phạm Văn M đã ăn năn, hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Theo Bản cáo trạng số: 14/CT-VKSHN, ngày 31-3-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố đối với Phạm Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Văn M từ 06 tháng đến 09 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, buộc Phạm Văn M nộp lại 760.000 đồng và Nguyễn Chí L nộp lại 40.000 đồng là tiền do phạm tội mà có để sung vào Ngân sách Nhà nước; Về vật chứng: đã xử lý xong nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

Đây là vụ án hình sự, theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Phạm Văn M về hành vi “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, và vụ án xãy ra tại địa phận huyện H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì Tòa án có triệu tập những người tham gia tố tụng, nhưng tại phiên tòa người liên quan Nguyễn Chí C, người làm chứng Trần Văn Q vắng mặt không lý do (mặt dù đã được triệu tập hợp lệ). Xét thấy qua ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, những người tham gia tố tụng có mặt, thì việc vắng mặt người làm chứng nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, vã lại họ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

3

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Tại phiên tòa bị cáo đã tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình, không bị ép buộc; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Nên Hội đồng xét xử không đặc vấn đề giải quyết.

. Về nội dung vụ án:

Ngày 21-8-2018 bị cáo Phạm Văn M bị Công an huyện H, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau, với số tiền 750.000 đồng (chưa nộp phạt), đến ngày 15-12-2019 bị Công an xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, với số tiền 1.500.000 đồng (chưa nộp phạt), nay lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp (tính đến ngày thực hiện hành vi trộm lần này chưa hết thời hiệu thi hành theo quy định). Bị cáo Phạm Văn M do không có nghề nghiệp ổn định vã lại ngựa quen đường cũ và cần có tiền tiêu xài cá nhân, cùng với ý thức bất chấp pháp luật, nên vào ngày 20-12-2019 bị cáo M tiếp tục lén lúc đến nhà ông Phạm Văn B (ông nội của mình) trộm hoàn thành một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J320, màu vàng gold, đã qua sử dụng của ông B đang để sạt pin trên kệ gỗ trong nhà, theo kết luận số 01/KLĐG-TTHS ngày 10-01-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H thì có giá trị 900.000 đồng. Tại phiên tòa cũng như qua quá trình điều tra bị cáo Phạm Văn M đã thừa nhận toàn bộ diễn biến việc thực hiện hành vi của mình như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, cũng như diễn biến tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy: Mặt dù lần trộm này chưa đủ định lượng theo quy định, nhưng vào ngày 15-12-2019 bị cáo Phạm Văn M đã bị Công an xã T, huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản (Trộm cắp tài sản) và đang thi hành quyết định chưa hết thời hạn quy định mà lại vi phạm tiếp cũng về hành vi chiếm đạt tài sản, nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, như Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

4

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

…..”

Dưới chế độ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của ta, thì tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản hợp pháp của công dân, của Nhà nước đều được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi trái pháp luật xâm phạm đến đều bị pháp luật trừng trị. Vậy mà bị cáo Phạm Văn M là người đầy đủ năng lực hành vi và hiện đang thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản chưa hết thời hạn theo quy định, nhưng lại không có ý thức giác ngộ, ăn năn, sửa chữa lỗi lầm, mà chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân trên công sức lao động của người khác, để rồi tiếp tục bất chấp nguy hiểm, bất chấp pháp luật, liều lĩnh lợi dụng khi không có ai trông coi tài sản và ngay giữa ban ngày lén lúc lấy trộm hoàn thành chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J320, màu vàng gold, đã qua sử dụng của ông B (ông nội bị cáo) đang để sạt pin trên kệ gỗ trong nhà, (theo kết luận số 01/KLĐG-TTHS ngày 10-01-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H thì có giá trị 900.000 đồng), hành vi này đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác một cách trái pháp luật, nên sẽ bị pháp luật trừng trị. Việc bị cáo Phạm Văn M cố ý tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp là đã thể hiện một bản chất lười biếng lao động, xem thường pháp luật, chấp nhận một lần nữa đánh đổi phẩm giá của mình bằng con đường phạm tội. Đáng lý ra bị cáo Phạm Văn M phải có suy nghĩ rằng mình tuổi đời còn trẻ, đang sống phụ thuộc gia đình và đang thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính chưa hết thời hạn theo quy định (chưa nộp), thì phải từ bỏ thói hư tật xấu, tìm cho mình một việc làm ổn định, có thu nhập chân chính để nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình, cũng như nộp phạt theo Quyết định nêu trên, có như thế mới thể hiện tính nêu gương tốt trong việc chấp hành pháp luật và sự tôn trọng tài sản của người khác, đằng này bị cáo Phạm Văn M không làm được điều đó mà lại tiếp tục phạm tội và hôm nay phải đứng trước phiên tòa chờ phán xét của pháp luật. Từ đó, xét thấy với ý thức, mức độ, hậu quả qua hành vi của bị cáo Phạm Văn M đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, làm hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an ở địa phương, nên cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc bằng cách cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tốt hơn trong việc chấp hành pháp luật, giác ngộ sửa chữa lổi lầm, phấn đấu trở thành công dân tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai thiếu ý thức, bất chấp pháp luật, xem thường tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác như bị cáo M.

5

Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Văn M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Việc am hiểu pháp luật còn hạn chế và thuộc thành phần lao động chân tay. Nên xem đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, để giảm nhẹ cho bị cáo Phạm Văn M một phần hình phạt. Đó là tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

. Đối với hành vi của Nguyễn Chí L là người đi cầm điện thoại; Nguyễn Chí C, là người nhận cầm điện thoại, về ý thức đều không biết điện thoại do bị cáo M trộm cắp mà có (vì bị cáo M không nói), nên Viện kiểm sát nhân dân huyện H không đề cập đến trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử, xét thấy là phù hợp, nên không xem xét giải quyết.

. Về vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J320, màu vàng gold, đã qua sử dụng, mà bị cáo M trộm là của ông Phạm Văn B, trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho ông B xong và ông B không yêu cầu gì thêm. Hội đồng xét xử, xét thấy là phù hợp nên không xem xét giải quyết lại.

. Về trách nhiệm dân sự: Do trong vụ án các đương sự không yêu cầu, kể cả phần tiền cầm điện thoại của anh Nguyễn Chí C không yêu cầu bị cáo M trả lại, nên không xem xét giải quyết. Tuy nhiên số tiền 800.000 đồng, bị cáo M nhờ L cầm điện thoại tại tiệm của anh C, bị cáo M đưa cho L 40.000 đồng và giữ lại 760.000 đồng, xét thấy đây là tiền do phạm tội mà có, nên buộc bị cáo M và L nộp lại để sung vào Ngân sách Nhà nước.

. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về án phí, lệ phí, để buộc bị cáo Phạm Văn M nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Qua vụ án này, bị cáo Phạm Văn M nên xem đây là một bài học đáng giá cho bản thân và từ bỏ ý thức xấu xa đó, đồng thời cũng cần nhắc nhở đến mọi công dân nên có ý thức nhiều hơn nữa trong việc quản lý tài sản của mình, không có một khoảng thời gian nào sơ hở để cho những kẽ có ý thức xấu xa thực hiện được hành vi phạm tội, có như thế mới góp phần chung vào phong trào đấu tranh phòng chống tội phạm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ các Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự;

6

2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn M 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Phạm Văn M chấp hành án phạt tù.

3. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015: Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng do bị cáo Phạm Văn M phạm tội mà có. Trong đó, buộc bị cáo Phạm Văn M nộp lại 760.000 đồng; buộc Người liên quan Nguyễn Chí L nộp lại 40.000 đồng.

4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Phạm Văn M nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo Phạm Văn M, người bị hại Phạm Văn B, người liên quan Nguyễn Chí L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (28/4/2020). Đối với người liên quan Nguyễn Chí C vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày niêm yết Bản án theo quy định.

6. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ