- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự phúc thẩm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Thị Thúy L đề ngày 17/8/2020 và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS-ST ngày 12/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh T giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2020/HS-PT Ngày: 29-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thuấn
Các Thẩm phán: Ông Ngô Văn Minh và bà Dương Thị Vân
- Thư ký phiên toà: Bà Đồng Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Lam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 25/2020/TLPT-HS ngày 14/9/2020 đối với bị cáo Vũ Thị Thúy L, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2020/HS-ST ngày 12/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.
- Bị cáo có kháng cáo: Vũ Thị Thúy L, sinh năm 1990, tại: Sơn La; Nơi đăng ký NKTT: Thôn 4, xã C, huyện Đ, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Duy Tịnh (Đã chết) và bà Trần Thị Yêm, có chồng là Nguyễn Văn Quỳnh và có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/01/2020 đến ngày 21/01/2020, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/01/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐăkTô phối hợp cùng Công an xã Tân Cảnh, huyện ĐăkTô tiến hành kiểm tra hành chính nhà của Vũ Thị Thúy L đã phát hiện thu giữ 87 hộp pháo. Bị cáo khai nhận do có quen biết từ trước với một người tên Ánh (Tên gọi khác: Hà) không biết nhân thân, lai lịch, ngày 14/01/2020, bị cáo đã gọi điện cho Ánh qua số máy 0335.304.957 để đặt mua 80 hộp pháo loại 49 ống. Tổng cộng 80 hộp với giá 48.000.000đ (Bốn mươi tám triệu đồng). Đến khoảng 01 giờ ngày 15/01/2020 Ánh điện thoại cho bị cáo thông báo chuẩn bị nhận hàng. Khoảng 10 phút sau, Ánh cùng một người đàn ông đi xe ô tô bốn chỗ màu đen không rõ biển số xe đưa pháo đến, bị cáo đã nhận 80 hộp pháo cất dấu vào phòng ngủ và giao cho Ánh số tiền 48.000.000đ như đã thỏa thuận.
Kết luận giám định số 168/KLGĐ ngày 22/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận toàn bộ 87 hộp pháo có trọng lượng 144,2kg thu được tại nhà bị cáo là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt bay lên cao, gây ra tiếng nổ và phát ra ánh sáng màu).
Với nội dung trên tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS-ST ngày 12/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Tđã quyết định.
Căn cứ Điểm c khoản 3 Điều 191; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Thúy L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Xử phạt bị cáo Vũ Thị Thúy L 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 16/01/2020 đến ngày 21/01/2020.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 17/8/2020 bị cáo Vũ Thị Thúy L kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm:
Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng quy định pháp luật.
Quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo cung cấp thêm, chứng cứ, tình tiết giảm nhẹ mới, được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự “Người phạm tội là phụ nữ có thai” nên cần áp dụng thêm cho bị cáo được hưởng. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm n, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xét thấy cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Căn cứ vào Điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS-ST ngày 12/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Tgiảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Căn cứ Điểm c khoản 3 điều 191; Điểm n, s khoản 1 điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự .
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án 4 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do đang mang thai và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh lu n tại phiên t a, Hội đồng xét xử nh n định như sau:
. Về tố tụng: Bị cáo Vũ Thị Thúy L kháng cáo trong thời hạn quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự là đúng quy định.
. Về nội dung: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/01/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐăkTô đã bắt quả tang thu giữ 87 hộp pháo tại nhà của bị cáo Loan. Kết luận giám định số 168/KLGĐ ngày 22/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận toàn bộ 87 hộp pháo có trọng lượng 144,2kg là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ.
Với hành vi trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2020/HS-ST ngày 12/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Tđã áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 xét xử bị cáo Vũ Thị Thúy L về tội “Tàng trữ hàng cấm” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo với lý do bị cáo đang mang thai, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Theo điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt từ 5 đến 10 năm tù. Bị cáo bị cấp sơ thẩm xử phạt mức hình phạt là 5 (năm) năm tù.
Xét thấy, quá trình xét xử, Tòa án sơ thẩm đã áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo đã được hưởng. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo cung cấp thêm các chứng cứ là các giấy siêu âm của Trung tâm y tế huyện ĐăkTô, giấy siêu âm của bệnh viện Đa khoa tỉnh Kon Tum. Kết quả thể hiện bị cáo đang mang thai được hơn hai tháng. Xét thấy, các giấy tờ này hợp lệ và là tình tiết giảm nhẹ mới, khi xét xử phúc thẩm bị cáo mới cung cấp, được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự “Người phạm tội là phụ nữ có thai” nên cần áp dụng thêm cho bị cáo được hưởng.
Như vậy, tại cấp phúc thẩm bị cáo được áp dụng thêm một tình tiết giảm nhẹ mới, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm n, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình của bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012, đều chưa đủ 18 tuổi, đang độ tuổi đi học. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội là phụ nữ có thai, mà tích cực cải tạo sớm trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, biết tôn trọng và chấp hành pháp luật.
Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, chế độ quản lý hành hóa mà Nhà nước cấm mua bán, sử dụng. Do vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với người phạm tội và cũng nhằm phòng ngừa chung trong tình hình tội phạm đang có chiều hướng ngày càng tăng trên địa bàn tỉnh Kon Tum như hiện nay.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Thị Thúy L, sửa bản án hình sự sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
. Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Thị Thúy L đề ngày 17/8/2020 và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS-ST ngày 12/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh T giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
2. Căn cứ Điểm c khoản 3 Điều 191; Điểm n, s khoản 1 điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Thúy L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Vũ Thị Thúy L 4 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 16/01/2020 đến ngày 21/01/2020.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Vũ Thị Thúy L không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.
4. Về các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (29/9/2020) Nơi nh n:
| - VKSND tỉnh KT; - VKSND huyện Đăk Tô; - Công an huyện Đăk Tô; - Chi cục THADS huyện Đăk Tô; - Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô; - UBND xã Tân Cảnh; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thuấn (Đã ký) |