- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2020/HNGĐ - ST Ngày: 16/6/2020 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Vũ Toàn.
Các Hội thẩm nhân:
1. Ông Trịnh Văn Thái
2. Ông Nguyễn Bá Bảy
Thư ký phiên tòa: Ông Võ Chí Công – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nữ - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 28/2020/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2020 về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thúy H – sinh năm 1989. Có mặt.
Địa chỉ: Số 39 đường Hồ Tùng Mậu, tổ 4, phường Đống Đa, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Bị đơn: Ông Quảng Minh K – sinh năm 1989. Vắng mặt.
Địa chỉ: Khu phố 3, phường Tân An, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, nuôi con ngày 21.12.2019 và lời khai tại Tòa án nhân dân thị xã L, bà Hoàng Thúy H – nguyên đơn trình bày:
Bà Hoàng Thúy H và ông Quảng Minh K chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông, quận B. T, thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 300, quyển số 2/2015 đăng ký ngày 20/10/2015.
Trong thời gian chung sống giữa bà và ông K đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. năm 2017 sau khi bà H sinh con thì bà phát hiện ông K có tham gia chơi cá độ đá banh và vay tiền nặng lãi dẫn đến không có khả năng chi trả. Đến tháng 8 năm 2018 vợ chồng bà đã không còn sống chung với nhau. Bà H có khuyên ông K nhưng ông không sửa đổi, gia đình cha mẹ có hòa giải cho vợ chồng bà và giúp đỡ về mặt kinh tế nhưng ông K không hề quan tâm để hàn gắn lại với bà H. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau nữa nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông Quảng Minh K.
Về con chung: Bà H và ông K có 01 con chung là Quảng Minh Thiên N, sinh ngày 25/11/2017, hiện đang sống với bà H. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình.
Bị đơn: Ông Quảng Minh K:
Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng ông K không chấp hành.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt không lý do.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo pháp luật tố tụng; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng là đúng pháp luật.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thúy H.
- Về con chung: Giao cho bà Hoàng Thúy H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung: Quảng Minh Thiên N, sinh ngày 25/11/2017.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Bà Hoàng Thúy H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Xét yêu cầu ly hôn, nuôi con của bà Hoàng Thúy H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L.
[2] Về thủ tục: Tòa án đã tiến hành tống đạt, triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông K vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hôn nhân:
Xét yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thúy H, Hội đồng xét xử xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa bà Hoàng Thúy H và ông Quảng Minh K là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống chung, giữa bà H và ông K đã xảy ra mâu thuẫn, ông bà đã hòa giải nhiều lần nhưng không thể hàn gắn lại, giữa ông bà hiện tại đã không còn tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau nên đã không còn sống chung. Tòa án đã tiến hành triệu tập, niêm yết các thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng ông K không chấp hành. Theo bà H trình bày: Mâu thuẫn giữa bà và ông K xảy ra gia đình có hòa giải nhưng không có kết quả. Tại phiên tòa bà H vẫn kiên quyết ly hôn với ông K. Điều đó chứng tỏ giữa bà H và ông K không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc. Xét mâu thuẫn giữa bà H và ông K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thúy H là phù hợp, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con của bà H, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng cần xem xét đến việc đảm bảo quyền lợi cho con về mọi mặt. Hiện nay cháu Quảng Minh Thiên N còn nhỏ và chưa đủ 03 tuổi nên cần sự chăm sóc và nuôi dưỡng của người mẹ. Hơn nữa, hiện nay bà H đang trực tiếp nuôi con và vẫn đảm bảo được việc trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng con, nên Hội đồng xét xử giao cho bà Hoàng Thúy H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung: Quảng Minh Thiên N là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Hoàng Thúy H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1, 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 262; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 51, 53, 54, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thúy H.
Bà Hoàng Thúy H được ly hôn với ông Quảng Minh K.
2. Về con chung: Giao cho bà Hoàng Thúy H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung: Quảng Minh Thiên N (giới tính: nữ), sinh ngày 25/11/2017.
Ông Quảng Minh K được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở.
3. Về cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí: Bà Hoàng Thúy H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0022635 ngày 10/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L. Bà Hoàng Thúy H đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/6/2020). Riêng bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND thị xã L; - THADS thị xã L; - UBND nơi ĐKKH; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Vũ Toàn |