vanban.org

Bản án 12/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị N và anh Vũ Sỹ C.

[2] Về nuôi con chung: Giao chị Phạm Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Vũ Phạm CS, sinh ngày 06/9/2008. Anh Vũ Sỹ C cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Phạm Thị N số tiền 3.500.000đ/ tháng kể từ tháng 10/2020 cho đến khi cháu S đủ 18 tuổi và anh C có quyền thăm nom c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị N và anh Vũ Sỹ C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ V
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2020/HNGĐ-ST
Ngày 16 tháng 9 năm 2020
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mầu Văn Mùi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Kim Dung và bà Bùi Thị Thu Hằng

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thao, Thư ký tòa án Toà án nhân dân thành phố V

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Hường Dung, Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 9 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 165/2020/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2020/QĐXX-ST ngày 01 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1977; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu tập thể, Lữ Đoàn A, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Khu hành chính 1, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Bị đơn: Anh Vũ Sỹ C, sinh năm 1974; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Khu hành chính 1, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 5 năm 2020 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Phạm Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Sỹ C kết hôn với nhau ngày 15/12/2001 trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, đến đầu năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung dẫn tới không khí gia đình căng thẳng. Mặc dù anh chị đã góp ý nhiều lần nhưng tình trạng hôn nhân không thay đổi. Hiện nay vợ chồng vẫn ở chung nhà nhưng không quan tâm gì đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Phạm C S, sinh ngày 06/9/2008. Hiện cháu S đang học lớp 7, Trường trung học cơ sở L, thành phố V và ở chung cùng anh chị. Ly hôn chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và chị yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 3.000.000đ/tháng. Nếu anh C cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 3.500.000đ/tháng chị cũng đồng ý.

Về tài sản, vay nợ và công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Vũ Sỹ C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian kết hôn cũng như quá trình chung sống như chị N trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách không hợp nhau và bất đồng quan điểm sống. Nay chị N xin ly hôn, anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung như chị N trình bày là đúng. Ly hôn anh đề nghị được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung. Trường hợp Tòa án giao con cho chị N anh cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N số tiền 3.500.000đ/tháng kể từ tháng 10/2020 cho đến khi cháu S đủ 18 tuổi..

Về tài sản, vay nợ và công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị N và anh Vũ Sỹ C; giao chị Phạm Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Sơn, anh C cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N số tiền 3.500.000đ/tháng kể từ tháng 10/2020 đến khi cháu Sơn đủ 18 tuổi và anh C có quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản. Đương sự chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị N khởi kiện xin ly hôn anh Vũ Sỹ C và đề nghị giải quyết nuôi con chung nên đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn là anh C hiện đang cư trú tại phường L, thành phố V nên theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố V.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Sỹ C kết hôn với nhau ngày 15/12/2001 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LB, huyện TD, tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở được tìm hiểu và tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp, tiến bộ. Quá trình chung sống anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, măc dù đã được hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Tại phiên tòa, chị N, anh C cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn và mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nên chị N xin ly hôn, anh C đồng ý ly hôn. Đây là sự tự nguyện của anh chị nên Hội đồng xét xử cần công nhận sự thuận tình ly hôn của chị N, anh C là phù hợp.

Về nuôi con chung: Anh C, chị N có 01 con chung là cháu Vũ Phạm CS, sinh ngày 06/9/2008. Hiện nay cháu Sơn đang ở cùng anh chị. Xét yêu cầu của anh C, chị N cùng đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thấy: Anh C, chị N đều có công việc và thu nhập ổn định đều có đủ điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Tuy nhiên theo nguyện vọng của cháu S đề nghị được ở cùng chị N nên cần chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cháu S cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và anh C xác định trường hợp giao con cho chị N nuôi dưỡng anh cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 3.500.000đ/tháng đây là sự tự nguyện của anh C nên cần chấp nhận là phù hợp.

Về tài sản và các vấn đề khác: Chị N, anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 55, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị N và anh Vũ Sỹ C.

[2] Về nuôi con chung: Giao chị Phạm Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Vũ Phạm CS, sinh ngày 06/9/2008. Anh Vũ Sỹ C cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Phạm Thị N số tiền 3.500.000đ/ tháng kể từ tháng 10/2020 cho đến khi cháu S đủ 18 tuổi và anh C có quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản.

[3] Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành án theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[4] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[5] Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2017/0006937 ngày 23 tháng 6 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V. Chị N đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Anh Vũ Sỹ C phải chịu 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ