vanban.org

Bản án 12/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Dư Minh T xin ly hôn với chị Đào Hồng M.

Về nuôi con chung: Giao cháu Dư Phát Tài (giới tính: nam) sinh ngày 11/01/2009 cho anh Dư Minh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Đào Hồng M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về án phí: Anh Dư Minh T phải chịu án phí hôn n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dư Minh T - Đào Hồng M"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Dư Minh T xin ly hôn với chị Đào Hồng M.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2020/HNGĐ-ST
Ngày 28-02-2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ý

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Ngọc Kiều

Bà Nguyễn Bé Bảy

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Lê Vũ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 315/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2019 về việc Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Dư Minh T, sinh năm 1988 (xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp 12, xã N, huyện U, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Chị Đào Hồng M, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp 5, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 28/10/2019, nguyên đơn anh Dư Minh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đào Hồng M tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 14/9/2009 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện U, tỉnh Cà Mau. Sau khi về chung sống thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nên xảy ra bất đồng ý kiến trong lối sống và trong sinh hoạt hàng ngày. Vợ chồng không có sự tôn trọng, quan tâm chia sẻ, nhường nhịn nên thường xảy ra cự cãi, giận dỗi. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng kéo dài và gay gắt, tuy cha mẹ hai bên có hòa giải hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay anh nhận thấy tình cảm, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên anh yêu cầu ly hôn với chị Đào Hồng M.

Về con chung: Có 01 con chung tên Dư Phát Tài sinh ngày 11/01/2009 hiện đang do anh nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị M cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn đúng theo quy định pháp luật nhưng chị Đào Hồng M không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của anh Dư Minh T và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Tại văn bản ngày 21/11/2019 về việc ghi nhận ý kiến của cháu Dư Phát Tài thể hiện: Cháu Tài có nguyện vọng tiếp tục sống chung với anh Dư Minh T.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dư Minh T về việc xin ly hôn với chị Đào Hồng M, giao cháu Dư Phát Tài cho anh T nuôi dưỡng, chị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở; các đương sự không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nên không xem xét; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét; về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Dư Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Đào Hồng M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T, chị M.

Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Anh Dư Minh T và chị Đào Hồng M tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn ngày 14/9/2009 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện U, tỉnh Cà Mau nên quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị M là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của anh Dư Minh T, thấy rằng: Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, anh T yêu cầu được ly hôn với chị M vì vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn gay gắt, không thể chung sống với nhau được nữa. Đối với chị M, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng chị M đều vắng mặt, không có ý kiến đối với yêu cầu của anh T. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa anh T và chị M đã trầm trọng, tình nghĩa vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T về việc xin ly hôn với chị M.

Về nuôi con chung: Anh T và chị M có 01 người con chung tên Dư Phát Tài (giới tính: nam) sinh ngày 11/01/2009 hiện do anh T nuôi dưỡng. Tại biên bản ngày 21/11/2019, cháu Dư Phát Tài có nguyện vọng tiếp tục sống cùng với anh T. Trên cơ sở xem xét điều kiện để phát triển về mọi mặt của con chung, nguyện vọng của con chung từ đủ 07 tuổi trở lên, đồng thời không làm thay đổi cuộc sống đã ổn định của cháu nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Dư Phát Tài cho anh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh T không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, đối với chị M không có văn bản thể hiện ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Anh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Dư Minh T xin ly hôn với chị Đào Hồng M.

- Về nuôi con chung: Giao cháu Dư Phát Tài (giới tính: nam) sinh ngày 11/01/2009 cho anh Dư Minh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Đào Hồng M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về án phí: Anh Dư Minh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Anh Dư Minh T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số 0004665 ngày 05/11/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U, tỉnh Cà Mau được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai bản án.

Cỡ chữ