vanban.org

Bản án 12/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Cao Thị Bích L

1/ Về hôn nhân: Chị Cao Thị Bích L ly hôn anh Nguyễn L1. 2/ Về con chung: Giao cho chị Cao Thị Bích L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con: Nguyễn Cao Xuân V1, sinh ngày: 18/11/2010 và Nguyễn Cao Diễm M, sinh ngày: 30/4/2014. Anh Nguyễn L1 có quyền thăm nom các con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Cao Thị Bích L
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 108 Luật Hôn nhân và gia đình
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 12/3/2020.
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận.

Các hội thẩm nhân dân:

1.Ông Lê Hoàng Phúc

2.Ông Nguyễn Đình Ba

-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên Tòa: Ông Cao Quốc Thuận – Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 477/2019/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 12 năm 2019, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Cao Thị Bích L, sinh năm: 1987.

Nơi cư trú: Số 53, đường Tô Ngọc Vân, khu phố 7, TT.V, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Nguyễn L1, sinh năm: 1979

Nơi cư trú: Số 53, đường Tô Ngọc Vân, khu phố 7, TT.V, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 11/3/2020; Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 26/02/2020;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 16/12/2019, biên bản tự khai, biên bản không hòa giải được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Cao Thị Bích L trình bày: Chị và anh L1 có thời gian tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, anh chị có đăng ký kết hôn vào năm 2005 tại UBND TT.V. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L1 thường xuyên ăn nhậu, anh đi làm và giữ tiền riêng không dùng cho gia đình. Ngoài ra, anh thường xuyên chơi số đề và nghi ngờ chị có quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Khi xẩy ra mâu thuẫn thì anh chị tự giải quyết, nhưng anh L1 không thay đổi sửa chữa. Do đó vào đầu năm 2019 chị có nộp đơn khởi kiện ly hôn tại Tòa án, nhưng sau đó chị suy nghĩ vì con còn nhỏ và để cho anh L1 có cơ hội sửa chữa nên chị đã rút đơn khởi kiện. Hiện nay, tuy anh chị chung sống cùng nhà, nhưng chị xác định không còn tình cảm với anh L1. Chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn

Theo biên bản lấy lời khai ngày 26/02/2020 bị đơn anh Nguyễn L1 trình bày: Sau khi kết hôn vào năm 2005 thì anh chị chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì anh nghe nhiều người đồn đoán chị L có quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Vì vậy anh chị thường xuyên xây ra mâu thuẫn. Nay chị L làm đơn khởi kiện ly hôn thì anh đồng ý ly hôn.

-Về con chung: anh chị có 02 con chung

+ Nguyễn Cao Xuân V1, sinh ngày: 18/11/2010

+Nguyễn Cao Diễm M, sinh ngày: 30/4/2014

Hiện nay các con chung đang ở cùng anh chị. Sau khi ly hôn chị L có nguyện vọng nuôi 02 con, chị yêu cầu anh L1 phải cấp dưỡng nuôi mỗi con là 1.000.000đồng/tháng/con. Anh Nguyễn L1 đồng ý giao 02 con cho chị L nuôi dưỡngg và đồng ý cấp dưỡng nuôi mỗi con là 1.000.000đồng/tháng/con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu Toàn án giải quyết

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của các đương sự: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ, xác định đúng quan hệ pháp luật, lập và gửi các văn bản đúng quy định. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng trình tự luật định.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa, cho thấy hôn nhân của anh, chị mâu thuẫn thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có tiếp tục kéo dài cũng không đem lại lợi ích cho anh, chị và các cháu. Vì vậy Hội đồng xét xử nên cho ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung, các cháu hiện nay đang ở cùng anh chị. Cháu Nguyễn Cao Xuân V1 hiện đã trên 7 tuổi, cháu có lời khai được ở với mẹ. Chị L có nguyện vọng nuôi 02 cháu, thấy rằng chị L có sức khỏe tốt, có công việc và thu nhập ổn định, mặt khác anh L1 cũng nhường quyền nuôi con cho chị L được quyền trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.Vì vậy Hội đồng xét xử nên giao 02 con cho chị L nuôi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn L1 là người có sức khỏe, có thu nhập.Vì vậy Hội đồng xét xử cần buộc anh L1 phải cấp dưỡng nuôi mỗi con là 1.000.000đồng/tháng/con là hoàn toàn phù hợp với với yêu cầu của chị L và mức sống tại địa phương.

Về án phí DSST: Chị Cao Thị Bích L phải chịu án phí về việc ly hôn, anh Nguyễn L1 phải chịu án phí DSST về việc cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của nguyên

đơn, bị đơn có trong hồ sơ và kết quả xác minh của Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 16/12/2019 Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Kể từ ngày Tòa án nhân dân huyện Đức Linh thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự được quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn L1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 26/02/2020, chị Cao Thị Bích L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 11/3/2020. Hội đồng xét xử xét thấy rằng nội dung và hình thức của đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng theo quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật.

Về hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Chị Cao Thị Bích L và anh Nguyễn L1 có đăng ký kết hôn vào ngày 23/12/2005 tại UBND TT.V. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử khẳng định đây là sự thật không cần phải chứng minh.

Tuy nhiên, sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là anh chị không tin tưởng lẫn nhau, nghi ngờ lẫn nhau làm cho tình cảm vợ chồng sứt mẻ. Thấy rằng, lời khai của anh chị là hoàn toàn phù hợp với thực tế và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Nay chị L xác định không còn tình cảm với anh L1 nữa và cương quyết ly hôn. Tòa án cũng đã kiên trì hòa giải cho vợ chồng anh đoàn tụ nhưng anh L1 không tham gia tố tụng. Vì vậy không thể hòa giải cho anh chị, cho thấy hôn nhân của anh, chị mâu thuẫn thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có tiếp tục kéo dài cũng không đem lại lợi ích cho anh, chị và các cháu. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L là đúng theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Xét thấy chị L là người có sức khỏe, có tư cách đạo đức tốt, có nghề nghiệp thu nhập ổn định và có nguyện vọng trực tiếp nuôi 02 con sau khi ly hôn, mặt khác anh L1 cũng nhường quyền nuôi con cho chị L. Cháu Nguyễn Cao Xuân V1, hiện nay đã trên 7 tuổi, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy Hội xét xử quyết định giao cho chị L được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 02 là phù hợp với quy định tại khoản 2, Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về quyền thăm nom con: Để bảo đảm quyền lợi cho các cháu được phát triển tốt về thể chất và tinh thần, nhận được tình yêu thương đầy đủ từ cả cha lẫn mẹ, cần xem xét tuyên quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau khi chị L ly hôn với anh L1. Anh Nguyễn L1 phải chấp hành đúng quy định về việc thăm nom con tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con:

Xét về mức cấp dưỡng: Chị L yêu cầu anh L1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000đồng/tháng/con. Hội đồng xét xử thấy rằng mức yêu cầu cấp dưỡng này là hoàn toàn phù hợp với mức sống tại địa phương nên chấp nhận yêu cầu của chị L.

Anh L1 hiện nay là người có sức khỏe, có công việc và thu nhập.Vì vậy Hội đồng xét xử cần buộc anh L1 phải cấp dưỡng nuôi 02 con theo mức yêu cầu của chị L là hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật

Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không phải xem xét trong bản án này.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ nghị quyết về án phí và lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 thì chị L là người khởi kiện ly hôn nên L phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo luật định.

Xét ý kiến của Kiểm Sát Viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp vợi nội dung vụ án.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự của năm 2015; Điều 357, 468 Bộ luật dân sự 2015; Áp dụng Điều 51, 56; khoản 2, Điều 81, khoản 2 Điều 82, Điều 107, 108, 110, 116,117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Cao Thị Bích L

1/ Về hôn nhân: Chị Cao Thị Bích L ly hôn anh Nguyễn L1.

2/ Về con chung: Giao cho chị Cao Thị Bích L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con: Nguyễn Cao Xuân V1, sinh ngày: 18/11/2010 và Nguyễn Cao Diễm M, sinh ngày: 30/4/2014. Anh Nguyễn L1 có quyền thăm nom các con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn L1 phải cấp dưỡng nuôi con: Nguyễn Cao Xuân V1, sinh ngày: 18/11/2010 và Nguyễn Cao Diễm M, sinh ngày: 30/4/2014, mỗi tháng là 1.000.000đồng/con/tháng (02 con x 1.000.000đồng= 2.000.000đồng/tháng), thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 3/2020 cho đến khi các con tròn đủ 18 tuổi.

Chị Cao Thị Bích L có quyền yêu cầu thi hành án ngay sau khi xét xử sơ thẩm đối với số tiền anh Nguyễn L1 phải cấp dưỡng nuôi hai con. Anh Nguyễn L1 có nghĩa vụ thi hành ngay số tiền Tòa án buộc phải cấp dưỡng nuôi con theo đơn yêu cầu của chị Cao Thị Bích L.

Kể từ ngày chị Cao Thị Bích L có đơn yêu cầu thi hành án về số tiền cấp dưỡng nuôi con thì anh Nguyễn L1 còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm, tương ứng với thời gian và số tiền phải thi hành án.

3/Về án phí DSST: Chị Cao Thị Bích L phải chịu 300.000đồng án phí DSST, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số 0003275 ngày 24/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị L đã nộp đủ án phí DSST.

Anh Nguyễn L1 phải chịu 300.000đồng án phí DSST về việc cấp dưỡng nuôi con. Án phí nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

4/ Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

5/ Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ