vanban.org

Bản án 12/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Trương Hoàng Th.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Hoàng Th được ly hôn với bà Phan Thị Kim Đ. Về con chung: Ông Trương Hoàng Th và bà Phan Thị Kim Đ có 02 con chung tên Trương Phan Kim Ng, sinh năm 1989 và Trương Hoàng G, sinh năm 1996 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thanh. Đạt Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Trương Hoàng Th.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:12/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 07- 02 - 2020
V/v tranh chấp: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Hoàng;

2. Ông Nguyễn Chí Lin.

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương- là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

Ngày 07 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1205/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXX-ST ngày 10/01/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trƣơng Hoàng Th, sinh năm 1963. (có mặt)

Địa chỉ: Ấp BT, xã TP, huyện Đ, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Bà Phan Thị Kim Đ, sinh năm 1969 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp HT1, xã HKT, huyện Đ, tỉnh Long An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn ông Trương Hoàng Th thể hiện:

Ông Th và bà Phan Thị Kim Đ tiến đến hôn nhân, sống chung với nhau từ năm 1988, sau đó đăng ký kết hôn ngày 17/10/2012 tại UBND xã Tân Phú, huyện Đức Hòa. Vợ chồng có 02 con chung, trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bà Đ không quan tâm lo lắng cho ông, hiện ông Th và bà Đ đã sống riêng khoảng 10 năm nay. Nay ông yêu cầu được ly hôn với bà Đ.

Về con chung: Quá trình chung sống, có 02 con chung tên Trương Phan Kim Ng, sinh năm 1989 và Trương Hoàng G, sinh năm 1996, các con đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Ông xin rút lại yêu cầu chia tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Phan Thị Kim Đ trình bày:

Năm 1986 giữa bà Đ và ông Th tự tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới năm 1988, sau đó có đăng ký kết hôn năm 2012. Quá trình chung sống vợ chồng luôn hạnh phúc và có 02 con chung, hiện các con đã trưởng thành. Đến năm 2011 thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm và đã được gia đình anh em hai bên hòa giải đoàn tụ. Từ đó hai bên ở chung nhà nhưng làm riêng, chi tiêu sinh hoạt riêng. Khoảng hơn một năm nay thì bà và ông Th đã sống riêng, ngoài ra bà phát hiện ông Th còn có quan hệ ngoại tình với người khác. Bà không đồng ý ly hôn với ông Trương Hoàng Th vì vợ chồng đã lớn tuổi, già yếu cần lo lắng cho nhau.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trương Phan Kim Ng, sinh năm 1989 và Trương Hoàng G, sinh năm 1996. Các con đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không có, không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dược thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trương Hoàng Th nộp đơn khởi kiện ly hôn với bà Phan Thị Kim Đ có địa chỉ cư trú tại xã Hòa Khánh Tây, huyện Đức Hòa nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

Về phạm vi giải quyết của Hội đồng xét xử: Theo đơn khởi kiện của ông Th yêu cầu ly hôn và chia tài sản chung với bà Đ, tuy nhiên ngày 10/01/2020 ông Th nộp đơn xin rút lại yêu cầu chia tài sản chung, bị đơn bà Đ không có yêu cầu phản tố. Căn cứ Khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Th.

Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Ông Th và bà Đ tự nguyện tiến đến hôn nhân, chung sống với nhau từ năm 1988, có đăng ký kết hôn ngày 17/10/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Phú, huyện Đức Hòa nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ông Th yêu cầu ly hôn vì cho rằng vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không quan tâm lo lắng cho nhau, hiện đã sống riêng 10 năm nay. Bị đơn bà Đ thừa nhận vợ chồng ở chung nhà nhưng làm riêng, chi tiêu sinh hoạt riêng khoảng 10 năm nay và hơn 01 năm nay đã không còn ở chung, ngoài ra ông Th còn có quan hệ ngoại tình với người khác. Tuy nhiên bà Đ không đồng ý ly hôn vì cho rằng vợ chồng đã lớn tuổi, cần nương tựa chăm sóc cho nhau lúc về già.

Xét thấy, ông Th và bà Đ đều thừa nhận vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, hai bên không còn sống chung, không còn quan tâm lo lắng cho nhau. Mẫu thuẫn giữa hai bên không hòa giải được. Tại phiên tòa, ông Th vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn, bà Đ không đồng ý nhưng cũng không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân.

Do đó, mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Trương Hoàng Th và bà Phan Thị Kim Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của các bên không đạt được, nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trương Hoàng Th.

Về con chung: Ông Th và bà Đ có 02 con chung tên Trương Phan Kim Ng, sinh năm 1989 và Trương Hoàng G, sinh năm 1996, các con đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Ông Th nộp đơn xin rút lại yêu cầu chia tài sản chung, bị đơn bà Đ cũng đồng ý nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này. Sau này các đương sự có tranh chấp thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.

Về nợ chung: Các đương sự trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn ông Trương Hoàng Th phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông Th được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí yêu cầu chia tài sản chung theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 217, 218, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 18, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Trương Hoàng Th.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Hoàng Th được ly hôn với bà Phan Thị Kim Đ.

Về con chung: Ông Trương Hoàng Th và bà Phan Thị Kim Đ có 02 con chung tên Trương Phan Kim Ng, sinh năm 1989 và Trương Hoàng G, sinh năm 1996 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hoàng Th về yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng với bà Phan Thị Kim Đ.

3. Về án phí: Ông Trương Hoàng Th phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà ông Th đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004015 ngày 02/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

Hoàn trả cho ông Trương Hoàng Th số tiền tạm ứng án phí là 13.000.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0004198 ngày 05/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

4. Về quyền kháng cáo: Ông Trương Hoàng Th, bà Phan Thị Kim Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ