vanban.org

Bản án 12/2020/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị R.

Buộc ông Nguyễn Văn Th và bà Lâm Thị Th phải cùng có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho chị Lý Thị R số tiền là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng), không tính lãi. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày chị R có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Nguyễn Văn Th và bà Lâm Thị Th không hoàn trả số … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị R.
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÙ LAO DUNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2020/DS-ST.
Ngày 09 - 9 -2020
V/v “Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Hồng Hải.

2. Ông Đinh Công Thuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Thừa – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.

Trong ngày 09 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2020/TLST- DS, ngày 04 tháng 02 năm 2020 về việc “Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Lý Thị R, sinh năm: 1974; Cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).

* Đồng bị đơn:

1. Nguyễn Văn Th, sinh năm: 1963 (Vắng mặt).

2. Lâm Thị Th, sinh năm: 1965 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 04 tháng 02 năm 2020, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Lý Thị R trình bày:

Vào tháng 02 năm 2019 (ÂL) chị R có hợp đồng bán mía nguyên liệu cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Th và bà Lâm Thị Th 07 công mía với số tiền là 14.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận ông Th và bà Th giao tiền cọc trước cho chị R số tiền là 3.000.000 đồng, chị R đã nhận đủ số tiền 3.000.000 đồng. Phần tiền còn lại là 11.000.000 đồng, ông Th và bà Th hẹn trả làm 02 lần, lần thứ nhất là ngày 01/02/2019 trả số tiền là 5.000.000 đồng, lần thứ hai là ngày 01/3/2019 trả số tiền còn lại là 6.000.000 đồng. Ông Th và bà Th đốn mía xong vào ngày 03/02/2019, nhưng ông Th, bà Th không trả tiền cho chị R như đã hẹn, chị R có đến nhà ông Th, bà Th để yêu cầu trả tiền nhiều lần, nhưng ông Th và bà Th vẫn không trả tiền cho chị R.

Nay chị Lý Thị R yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn Th và bà Lâm Thị Th phải cùng có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho chị R số tiền còn lại là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng), không yêu cầu tính lãi, trả đủ 01 lần.

* Đồng bị đơn là ông Nguyễn Văn Th và bà Lâm Thị Th đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải, ông Th và bà Th không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cũng như không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ôngThương và bà Th.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn Th và bà Lâm Thị Th là đồng bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Th và bà Th.

Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 02 năm 2020 của nguyên đơn Lý Thị R thì giữa chị R với ông Th, bà Th có hợp đồng mua bán mía với nhau. Do ông Th, bà Th vi phạm hợp đồng không trả tiền cho chị R, nên chị R khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Th, bà Th phải hoàn trả tổng số tiền mua mía còn lại là 11.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp phát sinh trong vụ kiện này là Tranh chấp hợp đồng dân sự (Hợp đồng mua bán tài sản) theo Điều 430 của Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ vào khoản 3, Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Th và bà Lâm Thị Th phải cùng có trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền là 11.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, trả đủ trong thời gian 30 ngày.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo nguyên đơn trình bày giữa nguyên đơn và ông Th, bà Th có hợp đồng mua bán mía nguyên liệu với nhau, diện tích là 07 công mía với số tiền là 14.000.000 đồng. Ông Th và bà Th đã trả trước cho chị R số tiền là 3.000.000 đồng. Phần tiền còn lại là 11.000.000 đồng, ông Th và bà Th hẹn trả làm 02 lần, lần thứ nhất là ngày 01/02/2019 trả số tiền là 5.000.000 đồng, lần thứ hai là ngày 01/3/2019 trả số tiền còn lại là 6.000.000 đồng, nhưng ông Th, bà Th không trả tiền cho nguyên đơn như đã hẹn, nguyên đơn có gặp ông Th, bà Th để yêu cầu trả tiền nhiều lần, nhưng ông Th, bà Th chỉ hẹn mà không trả tiền cho nguyên đơn.

Đối với đồng bị đơn ông Th, bà Th sau khi nhận được đơn khởi kiện của chị R, Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung có gửi thông báo thụ lý vụ án về nội dung yêu cầu của chị R và Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông Th, bà Th, nhưng ông Th, bà Th không gửi văn bản ghi ý kiến của mình, không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của chị R. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tình tiết, sự kiện chị R không cần phải chứng minh. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị R.

Xét về hình thức, nội dung và mục đích của hợp đồng nhận thấy: Chị R và ông Th, bà Th có hợp đồng mua bán tài sản (mua bán mía nguyên liệu) với nhau vào tháng 02 năm 2019 (ÂL). Do đó, xác định đây là quan hệ hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại Điều 430 của Bộ luật dân sự năm 2015. Chị R và ông Th, bà Th là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, khi giao kết hợp đồng đều hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên, đối tượng giao dịch được pháp luật cho phép, hình thức, nội dung và mục đích của hợp đồng phù hợp với pháp luật và không trái đạo đức xã hội tại thời điểm xác lập hợp đồng, nên cần công nhận đây là hợp đồng mua bán tài sản hợp pháp và giải quyết hậu quả phát sinh từ hợp đồng này theo quy định tại các điều 117, điều 119, điều 398, điều 422, điều 423, điều 427 và điều 430 của Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy, cần xử buộc ông Nguyễn Văn Th và bà Lâm Thị Th phải cùng có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho chị Lý Thị R số tiền là 11.000.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc ông Th, bà Th phải nộp số tiền là 550.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị R không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho chị R số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 275.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009738 ngày 04 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.

Ngoài ra, căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, điều 119, điều 398, điều 422, điều 423, điều 427 và điều 430 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 17 Luật phí và Lệ phí; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị R.

Buộc ông Nguyễn Văn Th và bà Lâm Thị Th phải cùng có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho chị Lý Thị R số tiền là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng), không tính lãi.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày chị R có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Nguyễn Văn Th và bà Lâm Thị Th không hoàn trả số tiền 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng) thì hàng tháng ông Nguyễn Văn Th và bà Lâm Thị Th còn phải trả lãi cho chị R đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn Th và bà Lâm Thị Th phải cùng có trách nhiệm liên đới nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 550.000 đồng (Năm trăm năm mươi ngàn đồng); Chị Lý Thị R không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho chị R số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 275.000 đồng (Hai trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009738 ngày 04 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.

3. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Lý Thị R có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với đồng bị đơn ông Nguyễn Văn Th và bà Lâm Thị Th không có mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ