- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thành C cùng đồng bọn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Thành C và Đồng Văn P đồng phạm phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình điều tra
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH tØnh h¶i d ¬ng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2019/HSST Ngày: 25/4/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH – TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ng Nguy n Văn Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguy n Thị Quy
Ông Ngô Văn Minh
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Triệu Thị Loan, cán bộ Toà án nh n d n huyện im Thành, t nh Hải D ng
- i di n i n ki m sát nh n d n huy n im Thành, t nh Hải ương tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Nhuần, iểm sát viên
Ngày 25 tháng 4 năm 2019, tại Hội tr ờng xét xử Tòa án nh n d n huyện Kim Thành, t nh Hải D ng, xét xử công khai s thẩm vụ án hình sự đã thụ lý số 04/2019/HSST ngày 19 tháng 2 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Vũ Thành C, sinh năm 1993 tại thị trấn P, huyện K, t nh Hải D ng; N i đăng ký hộ khẩu th ờng trú: Số 82 T, hu T, thị trấn P, huyện , t nh Hải D ng; Quốc tịch: Việt Nam; D n tộc: inh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Con ông Vũ Mạnh T (Đã chết) và con bà Trần Thị T, sinh năm 1965; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/10/2018 đến ngày 30/10/2018 chuyển tạm giam đến nay tại trại tạm giam im Chi – Công an t nh Hải D ng Có mặt
2. Đồng Văn P, sinh năm 1994 tại xã N– huyện – t nh Hải D ng; n i đăng ký hộ khẩu th ờng trú: Thôn B, xã N, huyện , t nh Hải D ng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn); 9/12; Con ông Đồng Văn B, sinh năm 1949 và con bà Nguy n Thị T, sinh năm 1959; Là con duy nhất trong nhà; Tiền án tiền sự: hông Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/10/2018, ngày 30/10/2018 chuyển tạm giam đến nay tại trại tạm giam im Chi – Công an t nh Hải D ng Có mặt
* Bị hại:
1. Chị Nguy n Thị L, sinh năm 1984; Trú tại: hu Đ, thị trấn P, huyện , t nh Hải D ng
2 Chị Tiêu Thị T, sinh năm 1996; Trú tại: Thôn A, xã T, huyện , t nh Hải D ng
3. Anh Nguy n Văn T, sinh năm 1983; Trú tại: P, xã , huyện , t nh Hải D ng
4. Anh Phạm Văn L, sinh năm 1980; Trú tại: Thôn T, xã , huyện , t nh Hải D ng
(Đều vắng mặt)
* Ng ời có quyền lợi liên quan:
Anh Bùi Xuân H1 (Tên gọi khác: T), sinh năm 1983; Trú tại: 8/135 H, ph ờng H, quận H, thành phố Hải Phòng (Vắng mặt)
* Những ng ời tham gia tố tụng khác
Ng ời làm chứng:
1. ng Đỗ Văn T, sinh năm 1964; Trú tại: Thôn P, xã , huyện , t nh Hải D ng
2. Anh Nguy n Văn T, sinh năm 1983; Trú tại: hu Đ, thị trấn P, huyện , t nh Hải D ng
3. Anh Trịnh Văn L, sinh năm 1971; Trú tại: hu Đ, thị trấn P, huyện , t nh Hải D ng
(Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Khoảng 19 giờ ngày 25/10/2018, sau khi ch i điện tử tại quán Internet ở xã N, huyện K, t nh Hải D ng, Vũ Thành C đi bộ lang thang mục đích xem ai s hở thì trộm cắp tài sản đem bán để lấy tiền ăn tiêu Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, C phát hiện thấy tại hiên cửa nhà anh Nguy n Văn T ở P, xã K, huyện K dựng 02 xe mô tô không có ng ời trông giữ, C đi đến chiếc xe nhãn hiệu Yamaha loại xe Exciter biển số 34B1-981 55 thấy chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện (Chiếc xe này của anh Trần Văn L là em vợ anh T hiện đang đi xuất khẩu lao động giao cho anh T quản lý, sử dụng) C đã mở khóa điện rồi điều khiển đi ra ngoài đ ờng Lúc này, anh T ở trong nhà phát hiện nên đã điều khiển xe mô tô còn lại đuổi theo hi đến c y xăng xã thuộc thôn P– xã K thấy ông Đỗ Văn T đang đứng tr ớc cửa nhà, anh T hô “Chú T ơi, nó trộm xe của cháu” Sau đó anh T v ợt xe chặn ở đầu xe C, C bỏ chạy thì anh T cùng ông T đuổi kịp bắt giữ đ ợc C và báo lực l ợng Công an xã đến lập biên bản bắt ng ời phạm tội quả tang, quản lý xe 34B1-981 55 và chiếc vam phá khóa C đem theo
Tại Bản kết luận định giá số 30/ L-HĐĐG ngày 26/10/2018 Hội đồng định giá huyện im Thành kết luận chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại xe Exciter biển số 34B1-981 55 trị giá 17 000 000 đồng
Ngày 16/11/2018 C quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho anh T.
Quá trình điều tra còn xác định rõ tr ớc đó C còn một mình thực hiện 02 hành vi trộm cắp tài sản và 01 lần trộm cắp tài sản cùng P Cụ thể:
- Khoảng 9 giờ ngày 15/8/2018, Vũ Thành C đi xe buýt từ thị trấn Pb – huyện đến ga Phạm Xá thuộc xã Tuấn H ng – im Thành, sau đó đi bộ lang thang mục đích thấy ai có tài sản s hở thì trộm cắp đem bán lấy tiền ăn tiêu Đến khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, C phát hiện thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wavers, biển số 34N9-6141 của chị Tiêu Thị T ở thôn A– xã T dựng ở v a hè, khu vực tr ớc cửa hàng bán vật liệu x y dựng của gia đình chị T không có ng ời trông giữ, chìa khóa vẫn cắm ở khóa điện C đi đến dắt chiếc xe mô tô trên xuống đ ờng và nổ máy đi lên thành phố Hải D ng để tìm chỗ bán xe Trên đ ờng đi C tháo biển số vứt đi Đến 9 giờ ngày 16/8/2018, do không bán đ ợc xe nên C điều khiển xe trộm cắp đ ợc đi về thị trấn P hi đi đến ga P, C gặp anh Trần Văn Q (Là bạn của C) trú tại thôn B – xã T, C đã hỏi vay anh Q 2 000 000 đồng và để lại xe làm tin, anh Q đồng ý Sáng ngày 17/9/2018, C nhận đ ợc điện thoại của 1 ng ời đàn ông giới thiệu là D (Không rõ địa ch cụ thể), yêu cầu C trả lại chiếc xe cho chị T, C sợ phát hiện nên đã đến nhà anh Q trả tiền và lấy lại xe và tự đem đến dựng ở tr ớc cửa hàng bán vật liệu của gia đình chị T.
Chị T đã giao C quan cảnh sát điều tra Công an huyện im Thành 01 xe mô tô cùng giấy đăng ký xe trong quá trình điều tra.
Tại Bản kết luận định giá số 44/ L-HĐĐG ngày 14/12/2018 Hội đồng định giá huyện im Thành kết luận chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wavers, biển số 34N9-6141 trị giá 5 000 000 đồng
Ngày 20/12/2018 C quan điều tra đã trả lại cho chị T xe và giấy tờ trên
- Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 26/9/2018, sau khi ch i điện tử tại quán Internet ở khu Đ– thị trấn P– , C hỏi Nguy n Duy N sinh năm 1992 ở thôn P – xã K – huyện – Hải D ng đang cùng ch i điện tử ở đó: “mày có xe không, chở tao về” N đi bộ ra ngoài và bảo C đi cùng (Theo C khai), sau đó N và C phát hiện thấy nhà chị Nguy n Thị L ở hu Đcổng mở, trong s n dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX biển số 99E1-086.70 chìa khóa vẫn cắm ở ổ, quan sát không có ai, N bảo C vào trộm cắp còn N đứng bên ngoài cảnh giới, C vào dắt xe ra cổng, nổ máy chở N đến nhà ng ời quen của N ở xã H – huyện – Hải D ng, N ở lại ch i còn C đi chiếc xe trộm cắp đ ợc của chị L đến Thành phố Hải Phòng để bán lấy tiền tiêu Sau khi phát hiện bị mất xe, gia đình chị L đã trình báo công an huyện im Thành và nhờ anh Trịnh Văn Lợi ở cùng thôn tìm giúp hoảng 12 giờ cùng ngày, C đang ở Hải Phòng ch a bán đ ợc xe thì ông L gọi điện thoại cho C hỏi “ Có phải mày lấy xe máy ở thị trấn sáng nay không, mang trả họ, đó là cháu tao” (Do buổi sáng cùng ngày, khi đi mua đồ ăn sáng, ông L nhìn thấy C điều khiển chiếc xe mô tô chở N có đặc điểm giống chiếc xe L bị trộm cắp) Sau khi nghe điện thoại của ông L, C điều khiển chiéc xe trên về xã H– huyện đón N rồi chở N đến nhà ông L, và giao lại chiếc xe cho ông L để ông L trả cho gia đình chị L.
Ngày 28/9/2010 Chị L đã giao cho C quan cảnh sát điều tra công an huyện im Thành 01 xe Biển số 99E1-086 70 và đăng ký xe
Tại Bản kết luận định giá số 43/ L-HĐĐG ngày 14/12/2018 Hội đồng định giá huyện im Thành kết luận chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX biển số 99E1-086 70 trị giá 6 900 000 đồng
Ngày 17/12/2018, C quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị L xe và giấy tờ trên.
- Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 22/10/2018, Vũ Thành C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 34B2-439.96 (C m ợn xe của anh Trần Nh H ở thôn P, xã , huyện làm ph ng tiện đi lại) đến nhà Đồng Văn P mục đích là rủ P đi xem ai có tài sản s hở thì bán lấy tiền ăn tiêu, P đồng ý Đến 7 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đ ờng giáp cánh đồng thôn T– xã K – huyện , C và P phát hiện thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển số 34N3-2123 của anh Phạm Văn L ở thôn T – huyện đang dựng ở rìa đ ờng không có ng ời trông giữ, C nói với P là trộm cắp chiếc xe mô tô trên P chở C đi qua vị trí chiếc mô tô của anh L, khoảng 10 m thì quay lại cách khoảng 50 m thì dừng xe, P cảnh giới, C đi đến gần xe thấy xe không khóa cổ, khóa càng nên dùng vam phá khóa bằng kim loại của C đem theo phá ổ khóa điện của xe và cho xe nổ máy đi ra Quốc lộ 5A về h ớng thành phố Hải Phòng, P đi sau Trên đ ờng đi, C và P dừng xe, C dùng vam phá khóa mở khóa cốp xe vừa trộm cắp đ ợc kiểm tra thấy bên trong có 01 ví da đựng giấy đăng ký xe mô tô biển số 34 N3-2123 và thẻ căn c ớc công d n mang tên Phạm Văn L. C đ a giấy đăng ký xe cho P, còn ví da bên trong có thẻ căn c ớc C vứt ở rìa đ ờng Lúc đó C và P bàn bạc với nhau đem chiếc xe trộm cắp đ ợc đến thành phố Hải Phòng để bán P điều khiển xe vừa trộm cắp đ ợc, còn C điều khiển xe máy m ợn của anh H đến quán Internet Game giải trí 24H ở xã A – huyện A– Hải Phòng ch i điện tử Tại đ y, P gặp anh Bùi Xuân H1 (Tên gọi khác: T) là ng ời quản lý quán P hỏi vay anh H1 5 000 000 đồng và nói để lại xe và đăng ký xe để làm tin thì anh H1 đồng ý P cầm tiền cùng C ăn tiêu hết 2 000 000 đồng, số còn lại C và P chia nhau mỗi ng ời 1 500 000 đồng tiêu xài cá nh n hết
Sau khi Vũ Thành C bị bắt quả tang về hành vi trộm cắp xe mô tô ngày 25/10/2018, C đã tự khai báo về các hành vi phạm tội tr ớc đó vào các ngày 15/8/2018; 26/9/2018 và 22/10/2018 thực hiện hành vi trộm cắp cùng Đồng Văn P.
Ngày 27/10/2018, P đã đến Công an huyện im Thành đầu thú về hành vi trộm cắp cùng C ngày 22/10/2018.
Ngày 27/10/2018 anh H1 giao xe và giấy tờ cho C quan cảnh sát điều tra huyện im Thành
Tại bản kết luận định giá tài sản số 32/ L-HĐĐG ngày 27/10/2018 của Hội đồng định giá huyện im Thành đã kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển số 34 N3-2123 trị giá 8 000 000 đồng
Cáo trạng số 04/CT-VKSKT ngày 18/02/2019, Viện iểm sát nh n d n huyện im Thành, t nh Hải D ng truy tố Vũ Thành C và Đồng Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận nh quá trình điều tra và xác định Viện kiểm sát nh n d n huyện im Thành, t nh Hải D ng truy tố Vũ Thành C và Đồng Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
Những bị hại, ng ời có quyền lợi liên quan vắng mặt nh ng đều có đ n đã nhận đ ợc tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi th ờng
Đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện im Thành, t nh Hải D ng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Vũ Thành C và Đồng Văn P về tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 58; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Thành C; xử phạt bị cáo C từ 23 đến 29 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 25/10/2018.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 58; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo P. Xử phạt bị cáo P từ 9 đến 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 27/10/2018.
Về trách nhiệm d n sự : Không phải giải quyết
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy 01 vam chữ T bằng kim loại màu trắng.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Th ờng vụ Quốc hội về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự s thẩm.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, iểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, ng ời có quyền lợi liên quan xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật Không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của ng ời tiến hành tố tụng Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
Về hành vi của các bị cáo và các chứng cứ xác định tội:
Trong khoảng thời gian từ ngày 15/8/2018 đến ngày 25/10/2018, Vũ Thành C đã lợi dụng s hở của chủ sở hữu và ng ời quản lý tài sản thực hiện 04 hành vi trộm cắp trên địa bàn huyện im Thành, t nh Hải D ng; trong đó có 01 hành vi thực hiện cùng Đồng Văn P Cụ thể nh sau:
Ngày 15/8/2018, C trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Wavers, biển số 34N9-6141 của chị Tiêu Thị T trị giá 5 000.000. Sau đó, C đem xe đến vay anh Q 2 000 000 đồng và để lại xe làm tin C sợ phát hiện đã đem tiền đến trả anh Q và lấy xe về tự trả cho chị T.
Ngày 26/9/2018, sau khi ch i điện tử tại quán Internet ở khu Đ– thị trấn P– huyện , C đã trộm cắp của chị Nguy n Thị L xe Honda loại Wave RSX biển số 99E1-086 70 trị giá 6 900 000 đồng Sợ có ng ời phát hiện ra hành vi của mình, C đã đến nhờ ông L đem trả xe cho chị L.
Ngày 22/10/2018, C cùng Đồng Văn P trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển số 34N3-2123 của anh Phạm Văn L ở thôn T – xã K trị giá 8 000 000 đồng C và P đem xe trộm cắp đ ợc đến Hải Phòng để tiêu thụ Tại đ y, P đã m ợn anh H1 5 000 000 đồng và để lại chiếc xe trộm cắp của anh L để làm tin.
Ngày 25/10/2018, C tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp của Nguy n Văn T ở thôn P – xã K – huyện 01 xe nhãn hiệu Yamaha loại xe Exciter biển số 34B1-981 55 trị giá 17 000 000 đồng, sau đó trên đ ờng tẩu thoát đã bị anh T cùng ng ời d n bắt giữ
Tổng giá trị tài sản bị cáo C chiếm đoạt là 36 900 000 đồng; trị giá tài sản bị cáo P chiếm đoạt là 8 000 000 đồng
Tr ớc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 22/10/2018, bị cáo C và P đều có mục đích “Đi lang thang xem ai sơ hở thì lấy trộm tài sản” nên các bị cáo đã đồng phạm phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Với tổng giá trị tài sản C chiếm đoạt là 36 900 000 đồng, P chiếm đoạt là 8 000 000 đồng thuộc tr ờng hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự “Ng ời nào trộm cắp tài sản của ng ời khác trị giá từ 2 000 000 đồng đến d ới 50 000 000 đồng hoặc d ới 2 000 000 đồng nh ng thuộc một trong các tr ờng hợp .. thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” Tuy nhiên đối với hành vi trộm cắp tài sản ngày 22/10/2018 có tính chất đồng phạm, trong đó C là ng ời chủ m u, rủ P đi trộm cắp tài sản và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò chính, P với vai trò là ng ời thực hiện hành vi phạm tội tích cực, trực tiếp đem xe máy trộm cắp đ ợc đi tiêu thụ, cùng nhau h ởng lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên bị cáo P giữ vai trò thứ hai
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những x m phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của anh T, anh L, chị L, chị T mà còn g y mất trật tự trị an trong khu vực, g y hoang mang cho quần chúng nh n d n Các bị cáo là ng ời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ đ ợc hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm, bị pháp luật cấm nh ng do ham ch i, không chịu lao động ch n chính, nên đã cố ý phạm tội Đối với các hành vi trộm cắp ngày 15/8, 26/9 và 25/10/2018 C là ng ời tự mình thực hiện hành vi trên c sở lợi dụng sự chủ quan s hở của chủ sở hữu, quản lý tài sản; đối với hành vi ngày 22/10/2018 các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp có sự bàn bạc, thống nhất từ tr ớc Vì vậy, Cáo trạng số 04/CT-VKSKT ngày 18/02/2019, Viện kiểm sát nh n d n huyện im Thành, t nh Hải D ng và lời buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện im Thành, t nh Hải D ng tại phiên tòa, đã truy tố các bị cáo Vũ Thành C và Đồng Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng ng ời, đúng tội, đúng pháp luật
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên đ ợc h ởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo”
Đối với bị cáo C sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đem xe trả lại cho bị hại là chị Tiêu Thị T và chị Nguy n Thị L; ngày 25/10/2018 bị bắt quả tang khi thực hiện hành vi trộm cắp xe của anh Nguy n Văn T đã tự khai nhận các hành vi trộm cắp tài sản ngày 15/8/2018, 26/9/2018 và cùng P trộm cắp ngày 22/10/2018 tại huyện im Thành, t nh Hải D ng nên đ ợc h ởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự “ Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả” và “Người phạm tội tự thú”.
Đối với bị cáo P lần đầu phạm tội và thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng và nhận thức đ ợc hành vi vi phạm của mình, đến ngày 27/10/2018 đã đến Công an huyện im Thành đầu thú nên đ ợc h ởng tình tiết giảm nhẹ tại quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo C thực hiện 4 hành vi trộm cắp tài sản vào các ngày 15/8, 26/9, 22/10 và 25/10/2018 thuộc tr ờng hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, nên bị cáo C phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
Bị cáo P không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì các bị cáo còn có thể bị phạt tiền sung quỹ Nhà n ớc, song xét hoàn cảnh các bị cáo không có tài sản, không có việc làm và thu nhập nên mi n hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguy n Văn T, anh Phạm Văn L, chị Tiêu Thị T và chị Nguy n Thị L là những bị hại đã nhận đ ợc tài sản và đều không yêu cầu các bị cáo phải bồi th ờng nên HĐXX không xem xét
Đối với số tiền 5 000 000 đồng bị cáo P vay của anh H1, sau đó gia đình bị cáo đã trả lại anh H1 số tiền trên Anh H1 cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi th ờng khoản tiền nào nên Hội đồng xét xử không xem xét
Đối với số tiền 2 000 000 đồng bị cáo C vay của anh Q, bị cáo đã trả anh Q, anh Q cũng không có yêu cầu bị cáo bồi th ờng khoản tiền nào nên Hội đồng xét xử không xem xét
- Đối với chiếc xe mô tô Exciter biển số 34B1-981 55 là xe của anh Trần Văn Lý là em vợ anh T hiện đang đi xuất khẩu lao động đã giao cho anh T quản lý, sử dụng; xe mô tô nhãn hiệu Wavers, biển số 34N9-6141 xe của chị Tiêu Thị T và xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX biển số 99E1-086 70 của chị Nguy n Thị L; xe mô tô biển số 34 N3-2123 của anh Phạm Văn L là tài sản thuộc quyền quản lý, sở hữu của anh T, chị T, chị L, anh L nên C quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện im Thành đã trả lại cho anh Nguy n Văn T, chị T, chị L và anh L là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Đối với chiếc vam phá khóa bằng kim loại là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Th ờng vụ Quốc hội về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo bị tuyên bố phạm tội, nên phải chịu án phí s thẩm hình sự
* Trong vụ án này, đối với anh Trần Văn Quyết và Bùi Xuân H1 khi C và P vay tiền đã để lại xe mô tô đã trộm cắp đ ợc làm tin, anh Q, anh H1 đều không biết đó là xe do phạm tội mà có; anh Trần Nh H khi cho C m ợn xe mô tô không biết mục đích C sử dụng phạm tội nên c quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với anh Q, anh H1 và anh Hải là phù hợp
Theo lời khai của C: Ngày 26/9/2018, C cùng Nguy n Duy N cùng thực hiện hành vi trộm cắp xe của chị Nguy n Thị L Tuy nhiên, ch a có đủ căn cứ để xác định Ninh đồng phạm với C về hành vi trộm cắp xe của chị L Mặt khác, anh N hiện vắng mặt tại địa ph ng Do đó, C quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện im Thành tiếp tục xác minh, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Thành C và Đồng Văn P đồng phạm phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Về điều luật áp dụng:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 58; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo C;
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 58; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo P.
3. Về hình phạt:
- Hình phạt chính:
Xử phạt bị cáo Vũ Thành C 30 (Ba m i) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 25/10/2018.
Xử phạt bị cáo Đồng Văn P 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 27/10/2018
- Hình phạt bổ sung: Mi n hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo
4. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) vam chữ T bằng kim loại màu trắng kích th ớc 18x6cm.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 14 giờ 30 phút ngày 22/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành).
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Th ờng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Vũ Thành C và Đồng Văn P mỗi bị cáo phải chịu 200 000đồng án phí s thẩm hình sự.
Án xử công khai s thẩm có mặt các bị cáo; vắng mặt những bị hại, ng ời có quyền lợi liên quan. Báo cho các bị cáo biết đ ợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ng ời có quyền lợi liên quan đ ợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ ợc bản án hoặc bản án đ ợc niêm yết /.
| Nơi nhận: - V SND huyện kim Thành; - Viện kiểm sát nh n d n t nh Hải D ng; - C quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện im Thành; - Trại tạm giam im Chi; - Trại tạm giam – Công an tp Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện im Thành; - Sở T pháp thành phố Hải Phòng; - Các bị cáo; bị hại; ng ời có QLLQ; - L u: Hồ s vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Trung |