- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Thị D có hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đo…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng Thị D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý " và tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý "
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu huỷ; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2019/ HS-ST Ngày 22- 5- 2019. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁÍ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tòng Văn Quân.
Các Hội thẩm thân dân: Ông Nguyễn Văn Tuấn.
Ông Giàng A Dao.
-
Thư ký phiên toà: Ông Lý A Hờ- Cán bộ Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
-
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải tham gia phiên toà: Ông Hoàng Xuân Bắc- kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2019/ TLST- HS ngày 26 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2019/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Giàng Thị D- sinh ngay 05/9/1983, tại huyện M, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: bản L, xã L, huyện M, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng Sông C- (đã chết) và bà Cứ Thị P- sinh năm 1924; có chồng là Hảng A Kh- Sinh năm 1982 và 03 con (con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2009); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2019. Có mặt.
-
Người bào chữa cho bị cáo Giàng Thị D: bà Lương Thị Ngọc Phương-Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Yên Bái. Có mặt.
-
Người tham gia tố tụng khác: Người phiên dịch ông Thào A D- Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 11/01/2019, tổ công tác Công an huyện Mù Cang Chải làm nhiệm vụ tại khu vực bản L, xã L, huyện M phát hiện Giàng Thị D có biểu hiện vi phạm pháp luật về ma túy; tổ công tác đến nhà Giàng Thị D tiến hành kiểm tra, Giàng Thị D đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon màu xanh, hàn túm một đầu bên trong chứa chất bột nén màu trắng (nghi là hê rô in). Theo lời khai của Giàng Thị D đó là hê rô in mua về để bán kiếm lời; tiến hành khám xét chỗ ở, đồ vật đối với Giàng Thị D phát hiện trong túi vải màu đen đeo trên người D có 40.000 đồng tiền có chữ Ngân hàng nhà nước Việt Nam; trên đỉnh màn buồng ngủ của D có 01 gói ni lon màu trắng buộc thắt nút một đầu bên trong có 06 gói ni lon nhỏ màu xanh hàn túm một đầu có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là hê rô in); trong túi vải màu đen trong tủ tại buồng ngủ có 01 gói ni lon màu xanh cuốn lại, bên trong có chứa chất nhực dẻo màu nâu đen (nghi là thuốc phiện). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại kết luận giám định số: 40/ GĐMT ngày 18/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận:
- Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Giàng Thị D có tổng khối lượng là 0,44 gam (không phẩy bốn mươi bốn gam) gửi đi giám định là ma túy, loại hê rô in.
- Chất bột nén màu trắng thu giữ khi khám xét nơi ở của Giàng Thị D có tổng khối lượng là 0,21 gam (không phẩy hai mươi mốt gam) gửi đi giám định là ma túy, loại hê rô in.
- Chất nhựa dẻo màu nâu đen thu giữ khi khám xét nơi ở của Giàng Thị D có tổng khối lượng là 18,79 gam (mười tám phẩy bảy chín gam ) gửi đi giám định là ma túy, là thuốc phiện.
Tại kết luận giám định số: 44/KLGĐ ngày 17/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Tổng số tiền 40.000 đồng thu giữ của Giàng Thị D gửi giám định đều là tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành.
Quá trình điều tra Giàng Thị D khai nhận: Khoảng 00 giờ ngày 11/01/2019 có một người đàn ông lạ gọi điện cho D hỏi có mua hê rô in không, do D đang cần mua hê rô in để bán nên trả lời là có và hỏi mua 1,5 chỉ cân tiểu ly. Khoảng 05 giờ cùng ngày người đàn ông này đến bán 01 gói hê rô in cho D với giá 250.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày khi không có ai ở nhà D lấy gói hê rô in ra, rồi dùng dao lam chia thành nhiều gói nhỏ, được 16 gói nhỏ mục đích nếu có ai hỏi mua thì bán kiếm lời.
Khoảng tháng 8/2018 Giàng Thị D gặp và mua của một người đàn ông lạ mặt 01 gói thuốc phiện với giá 600.000 đồng mục đích để sử dụng khi đau người và cho gia súc, gia cầm trong nhà ăn khi bị bệnh.
Tại phiên toà, bị cáo Giàng Thị D khai nhận toàn bộ hành vi của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mù Cang Chải, không thay đổi bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải. Bị cáo khẳng định việc khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.
Bản Cáo trạng số: 13/CT- VKS- MCC ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố Giàng Thị D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá hành vi của bị cáo trong quá trình thực hiện tội phạm và giữ nguyên quan điểm đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Giàng Thị D từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt cho cả hai tội từ 36 tháng đến 48 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy và chiếc cân tiểu ly; trả lại cho bị cáo Giàng Thị Dông số tiền 40.000 đồng.
bị cáo không tranh luận gì; người bào chữa trình bày lời bào chữa nhất trí với tội danh và điều khoản truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là phụ nữ, dân tộc thiểu số, không biết chữ, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội; nhận thức pháp luật còn hạn chế; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; bố đẻ bị cáo là Giàng Sống C được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51của Bộ luật hình sự, cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt cho cả hai tội là 03 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến bổ sung lời bào chữa của người bào chữa. Khi được nói lời sau cùng, đề nghị được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan điều tra Công an huyện Mù cang Chải, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, Kiểm sát viên; trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng; phù hợp với kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 11/01/2019 Giàng Thị D đã mua 0,65 gam ma túy, loại hê hê rô in với giá 250.000 đồng, mục đích để bán kiếm lời. Hành vi đó của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Khoảng tháng 8/2018 Giàng Thị D gặp và mua của một người đàn ông lạ mặt 18,79 gam thuốc phiện với giá 600.000 đồng mục đích để sử dụng khi đau người và cho gia súc, gia cầm trong nhà ăn khi bị bệnh. Hành vi đó của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Với tính chất mức, độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc “Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật, nhưng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, Hành vi của bị cáo không những xâm phạm quy định của Nhà nước về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma tuý mà còn làm gia tăng tệ nạn nghiện ma tuý; là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các loại tội phạm khác trên địa bàn, tác động ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời cũng đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung. Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng, điều kiện thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố bị cáo là Giàng Sống C được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt.
Về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội: Bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy” nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt chung.
Về nhân thân: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số, không biết chữ, hiểu biết xã hội còn nhiều hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự. Ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn thực hiện đúng chính sách pháp luật của Nhà nước, thể hiện bị cáo là người có nhân thân tốt.
Các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đã bán hê rô in và người bán thuốc phiện cho Giàng Thị D, nhưng do D không biết tên và địa chỉ của những người này nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý trước pháp luật.
Về vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án:
- Vật chứng là chất bột nén màu trắng là ma túy, loại hê rô in và chất nhực dẻo màu nâu đen là ma túy, loại thuốc phiện còn lại, sau khi lấy mẫu giám định, được niêm phong, trong một phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ.
- Vật chứng là 03 vỏ phong bì, giấy ni lon gói sau khi lấy mẫu giám định; 01 chiếc cân tiểu ly có vỏ gỗ cũ, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Vật chứng là số tiền 40.000 đồng là tiền thu nhập hợp pháp của bị cáo không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Giàng Thị D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý " và tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý "
1. Về hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Giàng Thị D 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Giàng Thị D 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với 01 (một) năm tù tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hình phạt chung cho cả hai tội bị cáo Giàng Thị D phải chịu 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 11/01/2019 .
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu huỷ: - 03 (ba) vỏ phong bì, giấy ni lon gói sau khi lấy mẫu giám định; 01 chiếc cân tiểu ly có vỏ gỗ cũ,
-
01 (một) phong bì niêm phong do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành. Mặt trước có ghi : “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Giàng Thị Dông- sinh năm 1983 tại bản Lao Chải, xã Lao Chải, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái ngày 11/01/2019 (sau khi lấy mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín có họ tên, chữ ký của Lương Thị Ngọc Phương, Nông Văn Phong, Sùng A Chư, Nguyễn Anh Tuấn, Trương Xuân Ngọc và các hình dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái.
-
01 (một) phong bì niêm phong do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành. Mặt trước có ghi : “Vật chứng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Giàng Thị Dông- sinh năm 1983 tại bản Lao Chải, xã Lao Chải, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái ngày 11/01/2019 (sau khi lấy mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín có họ tên, chữ ký của Lương Thị Ngọc Phương, Nông Văn Phong, Sùng A Chư, Nguyễn Anh Tuấn, Trương Xuân Ngọc và các hình dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái.
Trả lại cho bị cáo 40.000 đồng (Bốn mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
3.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Bị cáo Giàng Thị D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh YB; - VKSND huyện MCC; - VKSND tỉnh Yên Bái; - Công an huyện MCC (2 bản); - Chi cục THADS huyện MCC; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Công an trại giam; - Lưu T.H.A phạt tù, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Tòng Văn Quân |