vanban.org

Bản án 12/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 30/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Quang D phạm: “Tội cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lê Quang D 30 (ba mươi) tháng tù nhưng được hưởng án treo. Thờ i gian thử thá ch là 60 (sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quang Duy và Nông Văn Phát - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Quang D phạm: “Tội cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2019/HS-ST
Ngày 30 - 5 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM

TÒA ÁN DÂN NHÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thế Doanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đinh Thị Mĩ

Bà Nguyễn Thị Sở

- Thƣ ký phiên toà: Bà Đàm Thị Bưởi - Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà : Ông Hoàng Văn Hòa và bà Bà n Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 30/5/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2019/TLST-HS ngày 07/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2019/QĐXXST-HS ngày 16/5/2019 đối với cá c bị cáo:

Lê Quang D (tên gọi khác: không) - Sinh ngày 07 tháng 6 năm 1995 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 7/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang T và bà Hà Thị L; có vợ là Triệ u Thị Gi; con: Có 01 con; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt.

Nông Văn Ph (tên gọi khác: không) - Sinh ngày 10 tháng 9 năm 1993 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn T và bà Bế Thị Th; có vợ là Đặ ng Thị Tuyế t M; con: Có 01 con; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt.

- Bị hại đồ ng thờ i là bị cá o:

+ Lê Quang D - Sinh năm 1995; trú tạ i: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Có mặt.

+ Nông Văn Ph - Sinh năm 1993; trú tại: Thôn C, xã H, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn - Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồ ng thờ i là ngườ i là m chứ ng:

+ Bà Hà Thị L - Sinh năm 1964; trú tại: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Có mặt.

- Những người làm chứng:

+ Anh Nông Văn Tr - Sinh năm 1995; trú tại: Thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắ ng mặ t (có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Ông Đặng Ngọc H - Sinh năm 1970; trú tại: Thôn K, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắ ng mặ t).

+ Bà Ngô Thị M - Sinh năm 1980; trú tại: Thôn K, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Chị Triệu Thùy G - Sinh năm 1998; trú tại: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắ ng mặ t).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 10/12/2018, Lê Quang D, sinh năm 1995; trú tại: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn) đi ăn cướ i củ a gia đì nh bà Hà Thị S tạ i thôn N, xã H, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn thì gặp Nông Văn Ph (sinh năm 1993; trú tại: Thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn). Khi Ph đi sang mâm củ a D để mờ i rượ u mọ i ngườ i thì D nó i : “thằ ng Ph T ngồ i xuố ng” (T là tên bố đẻ của Ph , đã chế t). Nghe thấ y vậ y, Ph quay sang nó i vớ i D: “mà y đừ ng gọ i tao như thế , bố tao mấ t rồ i”. Biế t bả n thân đã quá lờ i nên D chủ độ ng mờ i rượ u xin lỗ i Ph rồ i hai bên tiế p tụ c ngồ i nó i chuyệ n , giao lưu vớ i mọ i ngườ i , nhưng sau đó D vẫ n và i lầ n gọ i Ph là “Ph T” khiế n Ph bự c tứ c . Khi chuẩ n bị đi vệ sinh , Ph nó i vớ i D : “mà y ra đây tao bả o” nhưng mọ i ngườ i trong mâm cỗ can ngăn nên D không đi ra ngoà i theo Ph khiế n Ph cà ng tức giận và chửi D: “thằ ng D T hôm nay tao phả i tát mày mấy cái” . Nghĩ Ph có ý định gây sự với mình nên D bỏ về nhà . Khi Ph đi vệ sinh quay lạ i thì không thấ y D đâu. Lúc này, Nông Văn Tr (sinh năm 1995; trú tại: Thôn C, xã H, huyệ n B - là em họ của Ph , cũng có mặt tại đám cưới ) nhậ n đượ c điệ n thoạ i củ a D nó i : “bả o thằ ng anh mà y thí ch gây sự thì ra ngã ba H đá nh nhau vớ i tao” . Tr truyề n đạ t lạ i câu nó i củ a D cho Ph . Ph gọ i điệ n thoạ i lại cho D nó i: “có chuyệ n gì thì để mai nó i , đá nh nhau là m gì ” , D nó i: “mà y ra ngay ngã ba H đá nh nhau vớ i tao”, Ph nó i: “vợ con cả rồ i, đá nh nhau là m gì ” rồ i đi về nhà . Khi về đế n nhà , Ph gọ i điệ n cho D nó i : “mà y đang ở đâu” , D đá p: “tao đang ở nhà , mày ra ngay đi” , Ph nó i: “vợ con cả rồ i , đá nh nhau là m gì ” thì D nó i: “mà y không ra thì tao và o nhà mà y” , Ph nó i: “mà y đợ i đấ y” . Sau đó , Ph đi ra gó c sân nhà bế p lấ y mộ t con dao tông bằ ng sắ t mà u đen dà i

54cm, rộ ng 6,5cm rồ i mộ t mì nh điề u khiể n xe mô tô đi ra ngã ba H giá p ranh giữ a thôn K , xã H và thô n B, xã C. Trong khi đó , D và o bế p lấ y mộ t con dao nhọ n bằ ng sắ t dài 33cm, rộ ng 05cm quay ra cử a nhà rồ i lấ y thêm mộ t con dao inox mà u trắ ng dài 27cm, rộ ng 07cm đi ra gầ n giữ a đườ ng Quố c lộ 3, đoạ n trướ c cử a nhà D tại thôn B, xã C đứng đợi Ph đến . Đế n khoả ng 19 giờ 30 phút cùng ngày , Ph đế n ngã ba H thấy D tay trái cầm con dao nhọn , tay phả i cầ m con dao tông mà u trắ ng. Ph cầ m con dao tông gà i ở xe mô tô vừ a tiế n gầ n đế n chỗ D vừ a nó i : “vợ con cả rồ i đá nh nhau là m gì ” , còn D thì chửi bới , thách thức. Ph nó i tiế p : “cấ t dao đi, thích đánh nhau thì bỏ dao xuống” . Lúc này, mọi ngườ i can ngăn không cho Ph, D đá nh nhau. Mẹ D là bà Hà Thị L và anh Nông Văn Tr khuyên can D đi và o trong nhà . Tr ôm ngườ i D không để D tiế n ra chỗ Ph nên tì nh hì nh dị u xuố ng. Thấ y vậ y, Ph cũ ng quay lạ i gầ n chỗ để xe mô tô . Bỗ ng nhiên, D đẩ y Tr ra, thoát khỏi sự ngăn cản của mọi người và lao về phía Ph , thấ y vậ y Ph cũ ng cầ m dao lao về phí a D . Cả D và Ph dùng tay phải chém đồng thời về hướng của nhau là m hai dao chạ m nhau . Trong lú c Ph vung con dao lên thì dao ché m trú ng bàn tay trái của D thì đồng thời D dùng tay phải đưa dao lên đỡ làm dao của Ph trượ t xuố ng tay phả i củ a D đang cầ m dao là m D bị thương ở mặ t sau bà n tay phải. D liề n dù ng dao inox ché m mộ t nhá t về hướ ng Ph. Ph nghiêng đầ u trá nh thì bị dao của D chém trúng tai phải làm đứt lìa vành tai của Ph . D quay ngườ i bỏ chạy theo hướng đi thành phố B K thì bị Ph vừ a đuổ i theo vừ a ché m vớ i theo D nhưng không trú ng. D chạy được một đoạn thì bị ngã . Thấ y D giơ tay lên thì Ph không ché m nữ a. Sau đó mọ i người lao đến can ngăn rồi đưa D và Ph đi bệ nh việ n chữ a trị .

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 29/TgT ngày 17/01/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Tỷ lệ thương tật của Lê Quang D là 16% (mườ i sá u phầ n trăm), vậ t gây thương tí ch là vậ t sắ c”.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tí ch số 30/TgT ngày 17/01/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Tỷ lệ thương tật của Nông Văn Ph là 18% (mườ i tá m phầ n trăm), vậ t gây thương tí ch là vậ t sắ c”.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKS-BT ngày 06/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện B để xét xử đối với Lê Quang D, Nông Văn Ph về tội cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã đượ c sử a đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luậ t Hì nh sự năm 2015).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

- Tuyên bố các bị cáo phạm “Tội cố ý gây thương tích”;

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điề u 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Quang D từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo . Thời gian thử thá ch là 48 tháng đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điề u 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nông Văn Ph từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo . Thời gian thử thá ch từ 48 tháng đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo D đã bồ i thườ ng cho bị hạ i Ph số tiề n 3.000.000đ và bị cá o Ph đã bồ i thườ ng cho bị hạ i D số tiề n 2.000.000đ. Tại phiên tò a , các bị hại không có y êu cầ u bồ i thườ ng gì thêm . Vì vậy , đề nghị HĐXX không xem xé t.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điề u 106 của Bộ luật tố tụng hình sự : Đề nghị tị ch thu tiêu h ủy 01 con dao tông củ a Nông Văn Ph; tịch thu tiêu hủ y 02 con dao củ a bà Hà Thị L do bà L không có yêu cầ u trả lạ i.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa , các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt; các bị hại xin giả m nhẹ hì nh phạ t cho cá c bị cá o và không yêu cầ u bồ i thườ ng gì thêm.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hà Thị L không yêu cầ u đượ c trả lạ i 02 con dao đang bị thu giữ .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi và quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi của cá c bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, lời khai của cá c bị cáo phù hợp với lời khai của cá c bị hạ i , ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan, ngườ i là m chứ ng ; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để khẳng định: Xuấ t phá t từ việ c hai bị cá o có lờ i lẽ không tôn trọ ng nhau nên cả hai cù ng bứ c xú c và hẹ n đá nh nhau nên và o khoả ng 19 giờ 30 phút ngày 10/12/2018, tại ngã ba giá p ranh giữ a thôn K, xã H và thôn B, xã C, Nông Văn Ph đã sử dụ ng mộ t con dao tông bằ ng sắ t dà i 54cm, có một lưỡ i sắ c, phầ n rộ ng nhấ t 6,5cm ché m và o bà n tay trá i củ a Lê Quang D rồ i trượ t vào bàn tay phải của D gây thương tí ch cho D vớ i tỉ lệ thương tậ t 16% (mườ i sáu phần trăm), đồ ng thờ i Lê Quang D cũng có hành vi dùng con dao bằng inox màu trắng chém đứt lìa vành tai phải của Nông Văn Ph gây thương tật cho Ph với tỷ lệ là 18% (mườ i tá m phầ n trăm).

Hành vi của cá c bị cáo được thực hiện khi bị cáo đã có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo sử dụng dao là hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho nhau. Do đó, hành vi của cá c bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ Luật Hình sự năm 2015.

Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có nội dung:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

……………………………………………………………………………………..

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

……………………………………………………………………………………..

đ, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

Cáo trạng số 12/CT-VKS-BT ngày 06/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo thấy:

Bị cáo Lê Quang D có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường cho bị hạ i Nông Văn Ph số tiền 3.000.000đ; quá trình điều tra và tạ i phiên tò a , bị hại Nông Văn Ph có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D; bị cáo có bố đẻ là Lê Quang T đượ c tặ ng thưở ng Huy chương chiế n sỹ vẻ vang nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Nông Văn Ph có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường cho bị hạ i Lê Quang D số tiền 2.000.000đ; quá trình điề u tra và tạ i phiên tò a, bị hại Lê Quang D có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Ph nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà các bị cáo gây ra đối với xã hội, xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy không cần thiế t buộc các bị cáo phải đi cải tạo tại cơ sở giam giữ mà chỉ cầ n cho cá c bị cá o cả i tạ o tạ i đị a phương cũ ng đảm bảo tính giáo dục cho các bị cáo và tính răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó, mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B đề nghị là phù hợp. Xét hành vi củ a cá c bị cá o thấ y bị cá o D là người khởi xướng , hẹn bị cáo Ph đá nh nhau nên bị cá o D phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Ph.

Trong vụ á n có Nông Văn Tr , sau khi nhậ n đượ c cuộ c đi ện thoại của D , Tr đã truyề n đạ t lờ i nó i củ a D hẹn Ph đá nh nhau. Mục đích của Tr không nhằ m kích động chuyện đánh nhau giữa D và Ph. Khi xả y ra đá nh nhau , Tr ôm giữ D nhằ m mụ c đí ch ngăn Duy không xông và o đá nh Ph. Do đó , Cơ quan Cả nh sá t điề u tra (CQCSĐT) không xử lý hà nh vi củ a Tr là đúng quy định của pháp luật.

. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Lê Quang D đã bồ i thườ ng cho bị hạ i Nông Văn Ph số tiề n 3.000.000đ, bị cáo Nông Văn Ph cũng bồi thường cho bị hại Lê Quang D số tiề n 2.000.000đ. Tại phiên tòa, các bị hại không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Đối với chiếc điện thoại của D dùng gọi hẹn Ph ra ngã ba H đá nh nhau, trong quá trì nh đá nh nhau , D bỏ chạy và bị ngã làm chiếc điện thoại bị vỡ . Tại phiên tò a, D không có yêu cầ u bồ i thườ ng chiế c điệ n thoạ i nên HĐXX không xem xé t.

. Về vật chứng của vụ án:

- 01 (một) con dao bằng sắt màu đen dài 54cm, phầ n rộ ng nhấ t củ a lưỡ i dao 6,5cm thuộ c quyề n sở hữ u củ a Ph và là hung khí mà Ph dùng để chém D. Đây là công cụ phạ m tộ i nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (mộ t) con dao nhọ n bằ ng sắ t mà u đen dà i 33cm, lưỡ i dao phầ n rộ ng nhấ t 05cm; 01 (mộ t) con dao inox mà u trắ ng đầ u vuông dà i 27cm, lưỡ i dao phầ n rộ ng nhấ t 07cm là tà i sả n củ a bà Hà Thị L . Khi D lấ y cá c con d ao nà y để đá nh nhau vớ i Ph nhưng không đượ c sự đồ ng ý của bà L. Tại phiên tòa , bà L không yêu cầ u trả lạ i nên cầ n tị ch thu tiêu hủ y.

- 01 (mộ t) chiế c điệ n thoạ i di độ ng nhã n hiệ u Viettel cù ng sim điệ n thoạ i mà D gọi hẹn Ph đá nh nhau. Trong quá trì nh điề u tra , D khai khi đá nh nhau và bỏ chạy rồi bị ngã làm điện thoại bị vỡ nên D đã vứ t đi nên CQCSĐT không thu giữ đượ c.

- 01 (mộ t) chiế c điệ n thoạ i nhã n hiệ u Nokia 1202 cùng sim điện thoại mà Ph dùng để gọi cho D trướ c thờ i điể m xả y ra đá nh nhau . Quá trình điều tra , Ph khai, sau khi đá nh nhau đã là m rơi mấ t điệ n thoạ i nên CQCSĐT không thu giữ đượ c.

- 01 (mộ t) chiế c điệ n thoạ i cù ng sim điệ n thoạ i củ a Nông Văn Tr nhậ n đượ c cuộ c điệ n thoạ i củ a D hẹn Ph đá nh nhau. Quá trình điều tra , Tr khai do điệ n thoạ i bị lỗ i, hỏng nên đã vứt đi nên CQCSĐT không thu giữ được.

- 01 (mộ t) chiế c xe mô tô nhã n hiệ u Honda Dream không biể n số mà Ph điề u khiể n từ nhà đế n ngã ba H để đá nh nhau. Quá trình điều tra, Ph khai sau khi đá nh nhau, Ph đã bá n chiế c xe mô tô cho ngườ i lạ mặ t để lấ y tiề n chữ a trị nên CQCSĐT không thu giữ đượ c.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điề u 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Lê Quang D phạm: “Tội cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lê Quang D 30 (ba mươi) tháng tù nhưng được hưởng án treo. Thờ i gian thử thá ch là 60 (sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điề u 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Nông Văn Ph phạm: “Tội cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nông Văn Ph 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng được hưởng án treo. Thời gian thử thá ch là 48 (bố n mươi tá m) tháng, tính từ ngày tuyên á n sơ thẩ m.

Giao bị cáo cho Ủ y ban nhân dân xã H , huyện B, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

- Về vật chứng, các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điề u 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao tông bằng sắt dài 54 cm, phầ n rộ ng nhấ t củ a lưỡ i dao 6,5 cm, cán sắt màu đen nâu; 01 (mộ t) con dao nhọ n màu xám đen dà i 33cm, lưỡ i dao phầ n rộ ng nhấ t có kí ch thướ c 05cm, tay cầ m bằ ng sắ t; 01 (mộ t) con dao inox đầ u vuông dà i 27cm, lưỡ i dao chỗ rộ ng nhấ t 07cm, tay cầ m bằ ng nhự a mà u đen, lưỡ i dao mà u trắ ng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 07/5/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện B).

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự ; Điề u 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14:

Buộ c bị cáo Lê Quang D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghì n đồ ng) án phí hình sự sơ thẩm.

Buộ c bị cá o Nông Văn Ph phải chịu 200.000đ (hai trăm nghì n đồ ng ) án phí hình sự sơ thẩm.

" Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".

- Quyền kháng cáo: Các bị cáo đồng thời là bị hại Lê Quang D, Nông Văn Ph; ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan Hà Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ