vanban.org

Bản án 12/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: cho chị Đoàn Thị H và anh Phan Trần V ly hôn với nhau.

2/ Về con: Giao chị Đoàn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Phan Đoàn Gia B, sinh ngày 20/7/2008. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Đoàn Thị H không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa chị Đoàn Thị H và anh Phan Trần V"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: cho chị Đoàn Thị H và anh Phan Trần V ly hôn với nhau.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 20-8-2019
V/v tranh chấp ly hôn và tranh
chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ái Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thu

Bà Bùi Thị Thu Thủy

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Vĩnh Lâm, Thẩm tra viên - Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cảnh, Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2018/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2019 về việc: “Tranh chấp ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2019, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị H, sinh năm 1986,

Địa chỉ: Khóm B, phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Anh Phan Trần V, sinh năm 1981, (vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm C, phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 22/4/2019 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Đoàn Thị H trình bày: Chị và anh Phan Trần V tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D vào năm 2008. Sau khi kết hôn anh chị ra riêng sống tự lập tại khóm C, phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, do anh V thường bỏ nhà đi chơi cùng bạn cả ngày mới về, có khi đi 2,3 ngày và khi về còn ghen tuông, kiếm chuyện chửi bới, đánh đập chị. Chị có khuyên ngăn nhưng anh V không sửa đổi. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã nghiêm trọng, không thể chịu đựng được nữa, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Trần V; Về con chung: thời gian chung sống chị và anh V một người con chung tên Phan Đoàn Gia B, sinh ngày 20/7/2008, sau khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp con, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết; về nợ chung không có.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/5/2019 bị đơn anh Phan Trần V khai: Anh thống nhất lời trình bày của chị Đoàn Thị H về quan hệ hôn nhân, về con chung, về tài sản chung. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh không đi làm, thường xuyên uống rượu và đi chơi với bạn bè. Nay anh còn tình cảm với vợ con, anh yêu cầu được đoàn tụ; về nợ chung: không có.

Quan điểm của vị kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải:

Về tố tụng: Về trình tự thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, người tham gia tố tụng, thành phần hòa giải và thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đều đúng theo quy định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn kiện, thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt hợp lệ, đầy đủ và tại phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H, anh V ly hôn với nhau; Về con: Đề nghị giao cháu B cho chị H nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con: chị H không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng, nên không xem xét; Về tài sản chung: các đương sự không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Chị Đoàn Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn và giải quyết việc nuôi con với anh Phan Trần V, đây là quan hệ ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do anh Phan Trần V có nơi cư trú và làm việc tại thị xã D, tỉnh Trà Vinh nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Phan Trần V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Trần V và chị Đoàn Thị H tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện D (nay là Phường A, thị xã D), tỉnh Trà Vinh vào năm 2008, như vậy hôn nhân giữa anh V và chị H là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống, giữa chị H và anh V xảy ra mâu thuẫn là có thật, chị H, anh V đều thừa nhận trong thời gian chung sống anh V không lo làm ăn, thường xuyên đi uống rượu với bạn bè, dẫn đến chị H về nhà cha mẹ ruột sống và khởi kiện ly hôn với anh V, anh chị ly thân từ tháng 3/2019 đến nay. Phía anh V cho rằng còn thương vợ, mong muốn đoàn tụ, nhưng Tòa án đã nhiều lần mời anh V đến Tòa án để hòa giải cùng với chị H, nhưng anh V đều vắng mặt, cho thấy anh V không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm gia đình. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh V đã đến mức trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị H yêu cầu ly hôn anh V là có căn cứ chấp nhận, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Thời gian chung sống anh Phan Trần V và chị Đoàn Thị H có 01 người con chung tên Phan Đoàn Gia B, sinh ngày 20/7/2008. Sau khi ly hôn, chị H có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét thấy cháu B từ nhỏ đến lớn đều chung sống gần gũi với chị H, được chị H chăm sóc chu đáo về mọi mặt, hơn nữa cháu B cũng có nguyện vọng muốn được chung sống với mẹ. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu Phan Đoàn Gia B cho chị Đoàn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị H không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: các đương sự không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về nợ chung: không có.

Về án phí: Chị Đoàn Thị H có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: cho chị Đoàn Thị H và anh Phan Trần V ly hôn với nhau.

2/ Về con: Giao chị Đoàn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Phan Đoàn Gia B, sinh ngày 20/7/2008. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Đoàn Thị H không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

3/Về án phí: Chị Đoàn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2018/0002118, ngày 23/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Duyên Hải, chị H đã nộp đủ. Anh Phan Trần V không phải chịu án phí.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ