vanban.org

Bản án 12/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Hồng B được ly hôn với chị Vũ Thị H. Về con chung: Giao con chung Vũ Thị Hà T, sinh ngày 29/8/2007 cho anh Vũ Hồng B trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh Bàng không yêu cầu giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình giữa anh B và chị H"
  • Tòa quyết gì? Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN LÃNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2019/HNGĐ - ST
Ngày: 05 - 7 - 2019
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Tuấn Anh.

Ông Vũ Đình Bảng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2019/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2019 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 03/6/2019, Quyết định Hoãn phiên tòa số 11/2019/QĐST-HNGĐ ngày 18/6/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Vũ Hồng B, sinh năm 19XX; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 19XX; ĐKNKTT: Thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng. Bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng tuyên bố mất tích theo Quyết định số 28/2018/QĐST-VDS ngày 17/12/2018; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 01 năm 2019, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Vũ Hồng B trình bày: Anh B và chị Vũ Thị H tự nguyện xây dựng gia đình với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 02/7/2004.

Quá trình chung sống: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh B nghi ngờ chị H có quan hệ với người đàn ông khác, sau đó chị H đã bỏ nhà đi không để lại địa chỉ, tin tức. Anh B cùng gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không biết chị H hiện nay đang ở đâu, còn sống hay đã chết, nên anh B đã có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Vũ Thị H là người mất tích và được Tòa án chấp nhận tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự 28/2018/QĐST-VDS ngày 17/12/2018. Nay anh B xác nhận: Tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ và để sớm ổn định cuộc sống nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vũ Thị H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Thị Hà T, sinh ngày 29/8/2007. Ly hôn, anh B yêu cầu được nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh Bàng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tiến hành xác minh, kết quả cho thấy: Sau khi kết hôn anh Vũ Hồng B và chị Vũ Thị H chung sống hòa thuận đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và anh B nghi ngờ chị H có quan hệ với người đàn ông khác, sau đó chị H đã bỏ nhà đi không để lại tin tức địa chỉ. Từ khi Tòa án tuyên bố chị Hạnh là người mất tích đến nay, không thấy chị Hạnh có mặt tại địa phương và cũng không biết chị H hiện đang ở đâu.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng theo quy định của pháp luật, từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu Tòa án thu thập đã thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và chị Hạnh đã bị Tòa án tuyên bố là người mất tích; căn cứ các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho anh Vũ Hồng B được ly hôn với chị Vũ Thị H; giao con Vũ Thị Hà T, sinh ngày 29/8/2007 cho anh B nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Vũ Hồng B có đơn khởi kiện xin ly hôn với chị Vũ Thị Hạnh có nơi cư trú tại: Thôn T, xã K, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

Về thủ tục tố tụng tại Tòa: Bị đơn là chị Vũ Thị H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa anh Vũ Hồng B và chị Vũ Thị H tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét quan hệ hôn nhân giữa anh B và chị H mâu thuẫn đã trầm trọng, sau đó chị Hạnh đã bỏ nhà đi khỏi địa phương và đã bị Tòa án tuyên bố là người mất tích. Nay anh B có yêu cầu được ly hôn với chị H. Căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự; căn cứ vào các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Vũ Hồng B được ly hôn với chị Vũ Thị H.

Về con chung: Anh Bàng và chị Hạnh có 01 con chung là Vũ Thị Hà T, sinh ngày 29/8/2007, ly hôn anh B yêu cầu được nuôi con. Xét, từ khi chị H bỏ nhà đi khỏi địa phương, anh B là người trực tiếp nuôi con, nay chị H đã bị Tòa án tuyên bố là ngưới mất tích. Do vậy việc giao con chung cho anh B nuôi dưỡng là phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện chăm sóc nuôi dạy cũng như nguyện vọng xin được ở với bố của con. Căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh B, giao con chung Vũ Thị Hà T, sinh ngày 29/8/2007 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H là người mất tích và anh B không yêu cầu tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Anh Vũ Hồng B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 và khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Hồng B được ly hôn với chị Vũ Thị H.

- Về con chung: Giao con chung Vũ Thị Hà T, sinh ngày 29/8/2007 cho anh Vũ Hồng B trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh Bàng không yêu cầu giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về án phí: Anh Vũ Hồng B phải chịu 300.000 đồng Ba tr m nghìn đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này anh B đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011460 ngày 19 tháng 3 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

- Về quyền kháng cáo:

Anh Vũ Hồng B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Chị Vũ Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ