vanban.org

Bản án 12/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
!HUYỆN!THỌ!XUÂN!
TỈNH!THANH!HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2019/HNGĐ - ST
Ngày: 29 - 01 - 2019
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỌ!XUÂN,!TỈNH!THANH!HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Trọng Hoành

2. Ông Lưu Minh Sửu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Tỉnh - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 246/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2018 về "tranh chấp ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11/01/2019, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Anh Hoàng Xuân H, sinh năm 1980, địa chỉ: thôn T, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt

- Bị đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1980, nơi ĐKHKTT: thôn T, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Là người bị tuyên bố mất tích theo quyết định số 33/2018/QĐDS-ST ngày 06/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân; Vắng mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Trong đơn khởi kiện ngày 08 tháng 10 năm 2018, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là anh Hoàng Xuân H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh H và chị Lê Thị T qua tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có tổ chức cưới theo phong tục và làm đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện T vào ngày 17/02/2000, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc và đã có 02 con chung. Đến ngày 15/5/2014 không hiểu vì lý do gì chị T đã bỏ đi khỏi địa phương. Anh H và gia đình, bạn bè đã tìm kiếm nhiều nơi, nhưng không có tin tức về chị T, nên anh H đã yêu cầu Tòa án tuyên bố chị T là người mất tích. Sau khi thực hiện đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định pháp luật, nhưng vẫn không có tin tức xác thực về chị T đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Ngày 06/9/2018 Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân đã tuyên bố chị Lê Thị T là người mất tích; đến nay vẫn không có tin tức xác thực về chị T, nên anh H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh H được ly hôn với chị T. Về con chung: anh H xác định vợ chồng có 02 (hai) con chung là Hoàng Xuân S, sinh ngày 10/3/2001 và Hoàng Xuân H, sinh ngày 30/12/2007; hiện tại cả 02 con chung đang ở với anh H; anh H xin được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng. Về tài sản và công nợ: anh H xác định vợ chồng không có gì, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là chị Lê Thị T là người đã bị tuyên bố mất tích; Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết công khai văn bản tố tụng đối với bị đơn theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn là người đã bị tuyên bố mất tích, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Về hôn nhân: xử cho anh Hoàng Xuân H được ly hôn với chị Lê Thị T; Về con chung: giao 02 (hai) con chung là Hoàng Xuân S và Hoàng Xuân H cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng; Về nghĩa vụ cấp dưỡng: không xem xét; Về tài sản và công nợ: không xem xét; Về án phí: anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: anh Hoàng Xuân H khởi kiện đề nghị giải quyết xin được ly hôn với chị Lê Thị T, có hộ khẩu thường trú tại: xã X, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Bị đơn là chị Lê Thị T đã bị Tòa án tuyên bố là người mất tích, Qúa trình giải quyết vụ án, không có tin tức xác thực về chị T; Căn cứ vào Điều 177, 179 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết công khai văn bản tố tụng đối với bị đơn theo quy định. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: anh Hoàng Xuân H và chị Lê Thị T tự nguyện kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã X, huyện T cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 17/02/2000, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị T là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống tình cảm vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Vào ngày 15/5/2014 chị T bỏ đi biệt tích và tại Quyết định số 33/2018/QĐDS-ST ngày 06/9/2018 Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân đã tuyên bố chị Lê Thị T là người mất tích; đến nay vẫn không có tin tức xác thực về chị T đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Nay anh H có đơn yêu cầu giải quyết xin được ly hôn với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy: yêu cầu của anh H là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, nên chấp nhận xử cho anh Hoàng Xuân H được ly hôn với chị Lê Thị T.

[3] Về con chung: anh Hoàng Xuân H và chị Lê Thị T có 02 (hai) con chung là Hoàng Xuân S, sinh ngày 10/3/2001 và Hoàng Xuân H, sinh ngày 30/12/2007. Xét nguyện vọng xin được nuôi con chung của anh H thấy rằng: cả 02 con chung đang ở ổn định với anh H, trong khi chị Lê Thị T là người đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, hiện không biết đang ở đâu, còn sống hay đã chết; vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con cần chấp nhận yêu cầu của anh H, giao 02 con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: anh H không yêu cầu nên không xem xét.

[4] Về phần tài sản và công nợ: anh H xác định vợ chồng không có gì, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; chị T không có lời khai. Do đó không xem xét.

[5] Về án phí: anh Hoàng Xuân H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hoàng Xuân H,

Anh Hoàng Xuân H được ly hôn với chị Lê Thị T.

2. Về con chung: anh Hoàng Xuân H và chị Lê Thị T có 02 (hai) con chung là Hoàng Xuân S, sinh ngày 10/3/2001 và Hoàng Xuân H, sinh ngày 30/12/2007, hiện tại cả 02 con chung đang ở với anh H.

Giao 02 con chung là Hoàng Xuân S và Hoàng Xuân H cho anh Hoàng Xuân H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: anh H không yêu cầu, nên không xem xét.

Chị Lê Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản và công nơ: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Anh Hoàng Xuân H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh H đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2017/0001305 ngày 20/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân. Anh Hoàng Xuân H đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ