vanban.org

Bản án 12/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh R’Cõm Pi-L.

Anh R’Cõm Pi-L được ly hôn với chị Kpă H’MaX. Anh R’Cõm Pi-L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) anh Pi-L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0005647 ngày 03 tháng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh R’Cõm Pi-L yêu cầu ly hôn với chị Kpă H’MaX"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh R’Cõm Pi-L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN IA GRAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2019/HNGĐ-ST
Ngày 24-9-2019
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Mý.

2. Bà Nguyễn Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Tấn Lập, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Dung – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 64/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2019, giữa:

1. Nguyên đơn: Anh R’Cõm Pi-L; địa chỉ: thôn Pleiku Roh, phường Yên Đỗ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; có mặt.

2. Bị đơn: Chị Kpă H’MaX; địa chỉ: tổ dân phố 5, thị trấn Ia Kha, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh R’Cõm Pi-L: anh và chị Kpă H’MaX tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 13/6/2016 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Ia Kha, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Trong quá trình chung sống, anh chị nảy sinh nhiều mâu thuẫn về tiền bạc, công việc, gia đình. Đến ngày 26/3/2017, chị H’MaX đập phá đồ đạc trong nhà sau đó bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tổ dân phố 5, thị trấn Ia Kha, huyện Ia Grai sống. Cho đến nay vợ chồng anh chị không còn liên lạc với nhau nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H’MaX. Anh chị không có con chung, tài sản chung và nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Chị Kpă H’MaX vắng mặt không có lý do trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh Pi-L và không cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.

3. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Tòa án nhân dân huyện Ia Grai đã xác định đúng quan hệ tranh chấp; thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và tại phiên tòa được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: xét mâu thuẫn giữa anh Pi-L và chị H’MaX là có thật, anh chị không chung sống với nhau một thời gian dài, không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng chứng tỏ mâu thuẫn hôn nhân đã trầm trọng, không giải quyết được. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Pi-L, xử cho anh Pi-L được ly hôn với chị H’MaX. Các đương sự không có con chung, tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Anh Pi-L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra, xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

Anh R’Cõm Pi-L yêu cầu được ly hôn với chị Kpă H’MaX, không yêu cầu giải quyết về việc nuôi con chung và chia tài sản chung nên đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Chị Kpă H’MaX cư trú tại tổ dân phố 5, thị trấn Ia Kha, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện Ia Grai có thẩm quyền thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của anh Pi-Ltheo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo kết quả xác minh ngày 11/6/2019 của Tòa án tại Ban Nhân dân tổ dân phố 5 thì chị H’MaX có sinh sống tại tổ dân phố 5, thị trấn Ia Kha, huyện Ia Grai nhưng do phải đi làm ở nơi khác nên chị H’MaX không thường xuyên có mặt ở nơi cư trú (bút lục số 21). Kết quả xác minh này phù hợp với địa chỉ của chị H’MaX do anh Pi-L ghi trong đơn khởi kiện. Do không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho chị H’MaX nên Tòa án niêm yết công khai các văn bản tố tụng này và tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Chị H’MaX đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H’MaX theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Pi-L và chị H’MaX chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43 ngày 13/6/2016 của Ủy ban nhân dân thị trấn Ia Kha, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Việc kết hôn của anh Pi-L và chị H’MaX đảm bảo các điều kiện kết hôn, được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại các Điều 8, 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hợp pháp.

Theo lời trình bày của Pi-L thì sau khi kết hôn, giữa anh và chị H’MaX nảy sinh nhiều mâu thuẫn về tiền bạc, công việc, gia đình. Đến ngày 26/3/2017, chị H’MaX đập phá đồ đạc trong nhà sau đó bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tổ dân phố 5, thị trấn Ia Kha, huyện Ia Grai sống, từ đó đến nay anh chị không còn liên lạc với nhau. Tại Biên bản xác minh ngày 11/6/2019 (bút lục số 21), ông Lê Văn Thọ, là Tổ trưởng tổ dân phố 5, thị trấn Ia Kha cho biết: sau khi kết hôn, anh Pi-L và chị H’MaX không cư trú ở tổ dân phố 5, thị trấn Ia Kha mà ở cùng gia đình anh Pi-L nên ông không biết anh chị có mâu thuẫn gì nghiêm trọng hay không. Tuy nhiên theo ông được biết thì anh Pi-Lvà chị H’MaX đã ly thân được một thời gian dài, hiện nay anh chị không còn chung sống với nhau nữa. Lời trình bày của anh Pi-L phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án tại địa phương; quá trình giải quyết vụ án, chị H’MaX không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án để phản đối yêu cầu khởi kiện và lời trình bày của anh Pi-L. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở để nhận định rằng mâu thuẫn giữa anh Pi-L và chị H’MaX như anh Pi-L đã trình bày là có thật. Mặc dù là vợ chồng nhưng anh chị không chung sống với nhau một thời gian dài, không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng, điều này thể hiện những mâu thuẫn hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, không thể giải quyết được. Căn cứ các Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Pi-Lar, xử cho anh Pi-L được ly hôn với chị H’MaX.

Về con chung và chia tài sản chung: anh Pi-L trình bày rằng anh và chị H’MaX không có con chung, tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: anh Pi-L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh R’Cõm Pi-L.

Anh R’Cõm Pi-L được ly hôn với chị Kpă H’MaX.

2. Anh R’Cõm Pi-L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) anh Pi-L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0005647 ngày 03 tháng 6 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Anh Pi-L đã thực hiện xong nghĩa vụ đóng án phí.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ