vanban.org

Bản án 12/2019/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 18/02/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/02/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

165 và khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

tại khoản 1 Điều 17 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 2 Điều 29 và khoản 1 Điều 48

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "dân sự phúc thẩm"
  • Tòa quyết gì? 165 và khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:12 /2019/DS-PT
Ngày 18 - 02 - 2019
V/v tranh chấp Đòi bồi
thường thiệt hại do sức khỏe
bị xâm phạm.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Nuôi.

Các Thẩm phán: 1/. Bà Trương Tố Hương.

2/. Ông Nguyễn Văn Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Út - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng: Bà Tăng Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 18 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 171/2018/TLPT-DS ngày 27 tháng 12 năm 2019, về việc “Đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 18/2018/DS-ST, ngày 20 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 09/2019/QĐ-PT ngày 04 tháng 01 năm 2019, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Ông A, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp V A, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

2- Bị đơn: Ông B, sinh năm 1963; Địa chỉ: Ấp V A, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư C – Văn phòng luật sư C, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ: đường L, khóm B, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

5- Người kháng cáo: Ông B là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nguyên đơn A trình bày: Vào khoảng 20 giờ ngày 10/12/2013, nguyên đơn A phát hiện cây cầu bắc qua Kênh thủy lợi để vào ao tôm của nguyên đơn tại Ấp V A, xã H, thị xã V bị dỡ bỏ, nguyên đơn hỏi ông D là người nuôi tôm kế bên thì được biết bị đơn B đã dỡ cây cầu. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, nguyên đơn cùng cha, mẹ của nguyên đơn đến nhà bị đơn để hỏi nguyên nhân dỡ cây cầu bắc qua Kênh thủy lợi và đã xảy ra cự cãi, xô xát. Bị đơn đã cầm dao chém vào người nguyên đơn làm nguyên đơn bị thương tại bắp tay phải, đứt lìa ngón tay út và bị thương lòng bàn tay phải. Nguyên đơn A được gia đình đưa đi cấp cứu tại Trạm y tế xã V, sau đó chuyển đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa thị xã V 08 ngày (từ 23 giờ 00 phút ngày 10/12/2013 đến 16 giờ 00 phút ngày 18/12/2013) và tại Bệnh viện chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh 03 ngày (từ 14 giờ 00 phút ngày 20/01/2014 đến 08 giờ 18 phút ngày 22/01/2014).

Tại Bản kết luận pháp y về thương tích, nguyên đơn bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 17%. Ngày 28/10/2014, Công an thị xã V ban hành Quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn A yêu cầu bị đơn B bồi thường chi phí cho việc cứu chữa, điều trị vết thường gồm các khoản tiền như sau: Tiền xe nhập viện và xuất viện là 11 lượt đi và về với số tiền là 1.540.000 đồng; Tiền giám định pháp y là 1.215.000đồng; Tiền thất công lao động của người bệnh và người nuôi bệnh: 150.000đồng/ngày x 11 ngày x 2 người = 3.300.000đồng; Tiền thuốc, viện phí là 16.272.200đồng; Tiền thất công lao động trong thời gian dưỡng bệnh: 04 tháng x 4.500.000đồng = 18.000.000đồng; Tiền tổn thất tinh thần là 8.340.000đồng. Tổng cộng là 48.667.200đồng.

2. Bị đơn B trình bày: Vào khoảng 22 giờ ngày 10/12/2013 nguyên đơn A đến nhà bị đơn B đập cửa, con và vợ bị đơn ra mở cửa thì nguyên đơn dùng tay nấm đầu, dùng cây đánh vào người vợ và con bị đơn, rồi dùng tay đánh vào mặt bị đơn. Để tự vệ và bảo vệ vợ con bị đơn vào nhà lấy dao ra chém nguyên đơn một cái không biết trúng đâu thì được mọi người can ra. Sau này mới biết nguyên đơn bị thương tích ở tay phải đứt lìa ngón tay, tỷ lệ thương tật là 17%, nằm viện điều trị nhiều ngày. Sự việc được Cơ quan điều tra Công an thị xã V điều tra làm rỏ và có Quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với bị đơn với lý do phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, sau đó chuyển vụ án về cho Công an xã V để hòa giải, giải quyết dân sự. Công an xã V tổ chức hòa giải nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường các khoản chi phí điều trị do sức khỏe bị xâm phạm là 19.304.000 đồng, nhưng bị đơn không đồng ý vì sự việc xãy ra hai bên đều có thương tích và thiệt hại. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường chi phí điều trị thương tích tổng cộng với số tiền là 48.667.200đồng là bị đơn không đồng ý, bị đơn chỉ đồng ý bồi thường tiền thang thuốc cho nguyên đơn là 3.500.000đồng, nếu nguyên đơn không đồng ý, yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật.

* Sự việc được Tòa án nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết. Tại bản án sơ thẩm số 18/2018/DS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2018, đã quyết định:

Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92 khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 584, Điều 585, Điều 590, của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào tiểu mục 1.1, tiểu mục 1.2, tiểu mục 1.3 và tiểu mục 1.5 phần 1 mục II của Nghị quyết số 03/2006 NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ vào điểm d Khoản 1 Điều 12 và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn A đối với bị đơn B, về việc “yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”

- Buộc ông B phải có nghĩa vụ bồi thường các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút cho ông A số tiền là 47.263.694đồng.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền toa vé viện phí mà ông A yêu cầu đối với ông B, tổng số tiền là: 1.403.506đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, án phí sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự theo luật định.

* Ngày 03/12/2018, Tòa án nhân dân thị xã V nhận đơn kháng cáo ngày 27/11/2018 của bị đơn B, nội dung kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm số 18/2018/DS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết xét xử lại vụ án theo hướng sửa một phần bản án đối với các chi phí yêu cầu bất hợp lý trong việc điều trị thương tích của nguyên đơn A.

* Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn A không rút lại đơn khởi kiện; người kháng cáo là bị đơn B giữ nguyên nội dung kháng cáo; Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

* Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đơn đưa ra những căn cứ, lập luận và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của bị đơn B, sửa một phần bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với những khoản bồi thường không hợp lý.

* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo, về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Đồng thời, phát biểu quan điểm về nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo và áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu và đề nghị của Luật sư, Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[I] Về tố tụng: Người kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo, thời hạn kháng cáo của bị đơn B là đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, nên kháng cáo hợp lệ và đúng theo luật định.

[II] Về nội dung:

[1] Nguyên vào khoảng 22 giờ ngày 10/12/2013, giữa nguyên đơn A và bị đơn B có xảy ra mâu thuẩn và có xảy ra xô xát đánh nhau. Trong quá trình xô xát thì bị đơn B có dung dao chém nguyên đơn A gây thương tích dẫn đến nguyên đơn bị tổn hại sức khỏe là 17%, bị đơn B thừa nhận thương tích dẫn đến nguyên bị tổn hại sức khỏe do chính hành vi của bị đơn dùng dao chém gây nên và đồng ý bồi thường cho bị đơn các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, điều trị. Do đó, nguyên đơn A yêu cầu bị đơn B phải bồi thường các chi phiều trị thương tích cho nguyên đơn A là có cơ sở và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Sự việc được Tòa án nhân dân thị xã V xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn A, buộc bị đơn B phải có nghĩa vụ bồi thường các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút cho ông A bao gồm tiền thuốc, viện phí 14.868.694đồng; tiền thu nhập bị mất, bị giảm súc của người bệnh và người nuôi trong thời gian điều trị 3.300.000đồng; tiền thu nhập bị mất, bị giảm súc trong thời gian dưỡng bệnh sau khi điều trị 18.000.000đồng (4.500.000đ/tháng x 4 tháng); tiền tổn thất về mặt tinh thần 8.340.000đồng; tiền tàu xe đi trị bệnh 1.540.000đồng; tiền chi phí giám định tỷ lệ thương tật 1.215.000đồng; tổng cộng số tiền là 47.263.694 đồng. Không chấp nhận số tiền tiền thuốc, viện phí không hợp lý mà nguyên đơn A yêu cầu đối với bị đơn B, tổng số tiền là: 1.403.506đồng.

[3] Theo kháng cáo của bị đơn B yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại những khoản chi phí không hợp lý cho việc điều trị thương tích và không chấp nhận yêu cầu bồi thường của nguyên đơn A đối với các khoản chi phí này.

[4] Tại phiên tòa sơ thẩm, theo đơn kháng cáo và tại phiên toà phúc thẩm bị đơn đồng ý bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn bao gồm tiền thuốc, viện phí điều trị tại Bệnh viện Đa khoa thị xã V và tại Bệnh viện chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh (nối gân tay); tiền tàu xe đi Thành phố Hồ Chí Minh (2 chuyến x 2 người) bằng 04 vé xe; tiền tổn thất tinh thần bằng 6 tháng lương cơ sở 8.340.000đồng (1.390.000đ x 6 tháng); tiền thu nhập bị mất, bị giảm súc của người bệnh và người nuôi trong thời gian điều trị 2.700.000đồng (150.000đ/ngày x 2 người x 9 ngày); tiền thu nhập bị mất, bị giảm súc trong thời gian dưỡng bệnh sau khi điều trị 13.500.000đồng (150.000đ/ngày x 90 ngày).

[5] Xét thấy, sau khi bị chém thì nguyên đơn điều trị tại Bệnh viện Đa khoa thị xã V thời gian 08 ngày và tại Bệnh viện chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh thời gian 03 ngày, nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường tiền thu nhập bị mất, bị giảm súc của người bệnh và người nuôi trong thời gian điều trị 11 ngày với số tiền 3.300.000đồng (150.000đ/ngày x 2 người x 11 ngày) là phù hợp; sau khi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa thị xã V thì nguyên đơn đi điều trị tại Bệnh viện chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh và đi về để điều trị, tái khám nhiều lần theo chỉ định của Bác sỹ, nên tiền tàu xe đi trị bệnh theo nguyên đơn yêu cầu 1.540.000đồng là phù hợp với thực tế; tiền tổn thất về mặt tinh thần 8.340.000đồng bị đơn đồng ý. Do đó, các khoản bồi thường thiệt hại bao gồm tiền thu nhập bị mất, bị giảm súc của người bệnh và người nuôi trong thời gian điều trị 3.300.000đồng; tiền tổn thất về mặt tinh thần 8.340.000đồng; tiền tàu xe đi điều trị, tái khám 1.540.000đồng như cấp sơ thẩm nhận định và buộc bị đơn bồi thường cho nguyên đơn là hợp lý và phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 mục 1 phần II của Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

[5] Đối với khoản tiền thu nhập bị mất, bị giảm súc trong thời gian dưỡng bệnh sau khi điều trị, theo nguyên đơn yêu cầu thời hạn 04 tháng với số tiền 18.000.000đồng là cao so với thực tế, nhưng theo bị đơn thì chấp nhận bồi thường thời hạn 90 ngày với số tiền 13.500.000đồng. Do vậy, nghĩ nên chấp nhận thời gian dưỡng bệnh sau khi điều trị theo bị đơn đồng ý là 03 tháng (90 ngày), tương ứng với số tiền 13.500.000đồng (150.000đ/ngày x 90 ngày) là hợp tình, hợp lý và có căn cứ pháp luật.

[6] Đối với chi phí về tiền thuốc, tiền viện phí cấp sơ thẩm chấp nhận là 14.868.694đồng theo 43 biên lai, hóa đơn do nguyên đơn A cung cấp; trong đó có 32 biên lai, hóa đơn (BL 21-22, 24-37, 46-48, 52a-59, 61-65) với số tiền 10.520.694đồng là phù hợp với việc điều trị thương tích ở cánh tay và bàn tay phải của nguyên đơn. Đối với 10 biên lai, hóa đơn (BL 38 – 45,49,50) với số tiền 4.288.000đồng mà nguyên đơn điều trị và khám bệnh tại Bênh viện Nhiệt Đới, nguyên đơn thừa nhận là điều trị bệnh men gan cao và khám bệnh theo yêu cầu, nhưng cho rằng việc điều trị và khám bệnh tại Bênh viện Nhiệt Đới là theo chỉ định của Bệnh viện chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nhập viện, nhưng trên thực tế nguyên đơn cũng không cung cấp được giấy tờ, chứng cứ để chứng minh có việc chỉ định của Bệnh viện chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh, trong khi đó trong các biên lai, hóa đơn trên thì có những biên lai, hóa đơn (BL 38-41, 43) nguyên đơn đã điều trị trước khi nhập viện tại Bệnh viện chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh; đối với bệnh men gan cao mà nguyên đơn điều trị không phải xuất phát từ thương tích của nguyên đơn do bị đơn chém gây ra, mà xuất phát từ cơ thể của nguyên đơn. Ngoài ra, có 01 biên lai, hóa đơn ngày 11/10/2013 (BL 60) với số tiền 60.000đồng điều trị trước khi sự việc xảy ra (ngày 10/12/2013) nên cũng không hợp lý. Từ những phân tích, nhận định thì những khoản chi phí điều trị, khám bệnh theo các biên lai, hóa đơn nêu trên là không phù hợp và không hợp lệ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường là không có cơ sở và không được chấp nhận. Do vậy, về số tiền thuốc, tiền viện phí hợp lệ được chấp nhận là 10.520.694đồng và không hợp lệ không được chấp nhận là 4.348.000đồng.

[7] Xét thấy, trong quá trình điều tra vụ án hình sự, tại Cơ quan Điều tra Công an thị xã V nguyên đơn đã nộp số tiền chi phí giám định thương tích là 1.215.000đồng (theo 02 biên lai thu - BL 51, 52) để yêu cầu Cơ quan Điều tra tiến hành giám định tỷ lệ thương tật tổn hại sức khỏe của nguyên đơn. Do không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan Điều tra Công an thị xã V đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với bị đơn B và chuyển vụ việc giải quyết theo thủ tục dân sự, nên đương sự phải chịu khoản chi phí này theo Điều 36 Luật giám định tư pháp. Do bị đơn là người gây ra hậu quả, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên bị đơn phải chịu và có nghĩa vụ bồi thường số tiền chi phí giám định 1.215.000đồng cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 161 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[6] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, kháng cáo của bị đơn B có căn cứ một phần nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần có căn cứ như nhận định trên.

[7] Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn B, sửa một phần bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với những khoản bồi thường không hợp lý là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

[8] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo, áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Do kháng cáo của người kháng cáo được chấp nhận, Bản án sơ thẩm bị sửa, nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Án phí sơ thẩm điều chỉnh lại cho phù hợp theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông B.

2/- Sửa bản án sơ thẩm số 18/2018/DS-ST, ngày 20 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, như sau:

Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92 khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 584, Điều 585, Điều 590, của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào tiểu mục 1.1, tiểu mục 1.2, tiểu mục 1.3 và tiểu mục 1.5 phần 1 mục II của Nghị quyết số 03/2006 NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ vào điểm d Khoản 1 Điều 12 và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn A đối với bị đơn B, về việc “yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.

- Buộc ông B phải có nghĩa vụ bồi thường các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút cho ông A số tiền là 38.415.694đồng (tiền thuốc, viện phí 10.520.694đ; tiền thu nhập bị mất, bị giảm súc của người bệnh và người nuôi trong thời gian điều trị 3.300.000đ; tiền thu nhập bị mất, bị giảm súc trong thời gian dưỡng bệnh sau khi điều trị 13.500.000đ; tiền tổn thất về mặt tinh thần 8.340.000đ; tiền tàu xe đi trị bệnh 1.540.000đ; tiền chi phí giám định tỷ lệ thương tật 1.215.000đ).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn A có đơn yêu cầu Thi hành án thì bị đơn B phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường đủ số tiền nêu trên cho nguyên đơn theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Nếu bị đơn B không thực hiện thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với những khoản chi phí không hợp lý cho việc điều trị mà nguyên đơn A yêu cầu bồi thường đối với bị đơn B, tổng số tiền là: 8.848.000đồng (tiền thuốc, viện phí 4.348.000đ; tiền thu nhập bị mất, bị giảm súc trong thời gian dưỡng bệnh sau khi điều trị 4.500.000đ).

Án phí dân sự sơ thẩm:

- Bị đơn B phải chịu là 1.920.800đồng.

- Nguyên đơn A được miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp nhận.

3/- Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng B không phải chịu; Hoàn trả cho bị đơn B số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000đồng, theo biên lai thu số 0004043 ngày 12/12/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã V.

4/- Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Nơi nhận:

- Các đương sữ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- VKSND tỉnh Sóc Trăng;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND TX. V;

- Chi cục THADS TX.V;

- Lưu hồ sơ vụ án, Tòa Ds.

Phạm Hùng Nuôi

Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ