vanban.org

Bản án 12/2018/KDTM-ST — Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn: Buộc Công ty TNHH TM N phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi còn lại ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Công ty cho thuê tài chinh I

Ngân hàng (ALCI) với số tiền tổng cộng là ́ 12.227.373.178 đồng (Mười hai tỷ hai trăm hai mươi bẩy triệu ba trăm bẩy mươi ba nghìn một trăm bẩy tám đồng), trong đó bao gồm: Nợ gốc 7.667.111.555 đồng (Bẩy tỷ sáu trăm sáu mươi bẩy triệu một trăm mười một nghìn năm trăm năm năm đồng), lãi trong hạn 3… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng — án kinh doanh thương mại — "Công ty tài chính I- Công ty Nam Vỹ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn: Buộc Công ty TNHH TM N phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi còn lại ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Công ty cho thuê tài chinh I
  • Căn cứ chính? Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2018/KDTM-ST
Ngày 26-11-2018
V/v tranh chấp hợp đồng
cho thuê tài chính.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN,THÀNH PHỐHẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Đức Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Thanh Du.

Ông Nguyễn Văn Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2018/TLST-KDTM ngày 26 tháng 9 năm 2018 về việc tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2018/QĐXXST-KDTM ngày 05 tháng 11 năm 2018; Quyêt định hoãn phiên tòa số 12/2018/QĐST-KDTM ngày 20 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty cho thuê tài chinh I - Ngân hàng N(ALCI); địa chỉ: Số

́

4 Phạm Ngọc T, quâ ̣n Đ, thành phố H;

Ngườ i đại diện theo pháp luật: Bà Trương Thị Xuân T ; chức vụ: Phó Tổng Giám đốc phu ̣ trách điều hành Công ty cho thuê tài chinh I - Ngân hàng N(ALCI);

́

Ngườ i đại diê ̣n theo ủy quyền: Ông Dương Thanh S, chứ c vu ̣: Phó giám đốc phụ trách điều hành Chi nhánh Công ty cho thuê tài chính I - Ngân hàng N (theo Giấy ủy quyền số 319/ ALCI-KD ngày 03/08/2018 của Phó Tổng giám đố c phu ̣ trách điều hành Công ty cho thuê tài chính I - Ngân hàng; Ông Sơn có mặt.

Bị đơn: Công ty TNHH thương ma ̣i N ; địa chỉ: Số 8 lô 17 đườ ng B, phườ ng Đ, quâ ̣n H, thành phố H;

Chủ sở hữu công ty: Ông Nguyễn Tiến H ; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Số 1/40 L, phườ ng H, quâ ̣n L, thành phố H;

Ngườ i đại diê ̣n theo phá p luật hiê ̣n nay: Ông Hoàng Nam H, chứ c vu ̣: Giám đốc công ty TNH H thương ma ̣i N ; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Số 89 T, Phườ ng N, quâ ̣n H, thành phố H; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 28 tháng 08 năm 2018 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 15/10/2018 của nguyên đơn là Công ty cho thuê tài chính I - Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Dương Thanh S trình bày:

Ngày 30/09/2013 ALCI HP ký hợp đồng cho thuê tài chính số 01/2013/HĐ-ALCI với Công ty TNHH TM N. Tài sản thuê tài chính là 01 (một) tàu biển chở hàng khô, vỏ thép, cấp hạn chế III mang tên “Thịnh An 36-ALCI”; Giá trị tài sản thuê là 20.685.170.511 đồng (Tàu Thịnh An 36-ALCI đến ngày 07/04/2014 đổi tên thành tầu Nam Vỹ 19 - ALCI). Hợp đồng cho thuê số 01/2013/HĐ-ALCI đã quy định:

Công ty TNHH TM N cam kết thanh toán tiền thuê cho ALCI HP đầy đủ, đúng hạn theo lịch thanh toán cụ thể được quy định tại phụ lục hợp đồng (điều 7). ALCI HP có quyền chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước hạn khi Công ty TNHH TM N vi phạm hợp đồng cho thuê tài chính: Không trả tiền thuê theo quy định, vi phạm các điều khoản của hợp đồng cho thuê tài chính,..(điều 14).

Trong quá trình thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính nêu trên, Công ty TNHH TM N đã không trả tiền thuê theo quy định trong hợp đồng; cụ thể: Đến ngày 31/01/2017 nợ quá hạn 3.795.487.605 đồng (bao gồm nợ gốc quá hạn 2.275.521.312 đồng, nợ lãi quá hạn 1.519.966.293 đồng).

Vì vậy, ALCI HP đã ra thông báo số 70/TB-ALCI HP-KD ngày 15/03/2017 về việc chấm dứt hợp đồng thuê tài chính trước hạn và yêu cầu Công ty TNHH TM Nam Vỹ phải thanh toán tổng số tiền còn lại đối với hợp đồng là 19.099.629.144 đồng (nợ gốc 17.635.290.183 đồng, nợ lãi 1.464.338.961 đồng).

Do Công ty TNHH TM N không thanh toán được số tiền còn lại của hợp đồng cho thuê tài chính số 01/2013/HĐ-ALCI nên ngày 28/04/2017 ALCI HP đã ký phát giấy yêu cầu thu hồi (số 144/ALCI HP-KD) tầu Nam Vỹ 19-ALCI. Ngày 24/05/2017 ALCI HP đã thu hồi tàu Nam Vỹ 19-ALCI tại Công ty cổ phần Hợp Tiến Thành (xã H, huyện T, thành phố H).

Trình tự các bước thu hồi và xử lý tầu N 19-ALCI, ALCI HP đã thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-NHNN-BCA-BTP ngày 10/12/2007 thông tư liên tịch giữa Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn thu hồi và xử lý tài sản của Công ty cho thuê tài chính; cụ thể:

- Ngày 30/05/2017 ALCI HP cùng Công ty TNHH TM N ký biên bản thống nhất phương án xử lý tầu Nam Vỹ 19-ALCI bằng hình thức bán để thu bằng tiền hoặc cho bên thuê khác thuê tài chính lại; giá đưa ra xử lý tầu căn cứ giá trị thẩm định của cơ quan chức năng thẩm định giá; số tiền thu được từ việc xử lý tầu Nam Vỹ 19-ALCI dùng để thanh toán các nghĩa vụ của Công ty TNHH TM N đối với ALCI HP, nếu không đủ thì Công ty TNHH TM N có trách nhiệm đến cùng thanh toán số tiền còn thiếu đó.

- ALCI HP thuê Công ty cổ phần thẩm định giá VINACONTROL thẩm định giá và đã được cấp chứng thư thẩm định giá số 17P01TDD0285-02 xác định giá là 8.091.000.000 đồng (Tám tỷ không trăm chín mươi mốt triệu đồng).

- ALCI HP đã chào bán/cho thuê lại trên báo Lao động vào các ngày 23, 24 và 26/6/2017 theo hợp đồng số 26/HĐQC-2017.

- Ngày 10/11/2017 ALCI HP đã thực hiện hợp đồng số 252/HĐ-DVĐG bán đấu giá tầu Nam Vỹ 19-ALCI với giá khởi điểm là 12.500.000.000 đồng (cao hơn giá thẩm định vì nhằm giảm thiểu thiệt hại cho Công ty TNHH TM N và cho cả ALCI HP). Tuy nhiên không có người đăng ký tham gia đấu giá, ALCI HP đã có văn bản thông báo cho Công ty TNHH TM N về việc đấu giá này.

- Ngày 12/12/2017 ALCI HP nhận được đề nghị thuê lại tầu N 19 -ALCI theo hình thức thuê tài chính từ Công ty TNHH VTB & TM P. ALCI HP tiếp tục chào bán/cho thuê lại tàu N 19-ALCI với giá 10.000.000.000 đồng (Mười tỷ đồng) trên báo Lao động vào các ngày 25, 26 và 27/12/2017 nhưng không có khách hàng mua hoặc thuê tàu.

- ALCI HP đã tiến hành thẩm định cho Công ty TNHH VTB & TM P thuê lại tàu Nam Vỹ 19-ALCI. Đến ngày 28/12/2017 ALCI HP và Công ty TNHH VTB & TM P ký Hợp đồng cho thuê số 02/2017/HĐ-ALCIHP, số tiền cho thuê là 10.000.000.000 đồng (Mười tỷ đồng).

Sau khi cho thuê lại tầu Nam Vỹ 19-ALCI, ALCI HP đã có các văn bản số 460/ALCIHP-KD ngày 03/01/2018, số 06/ALCIHP-KD ngày 15/01/2018, số 73/ALCIHP-KD ngày 23/03/2018 thông báo cho Công ty TNHH TM N về việc đã xử lý xong tầu N 19-ALCI, và yêu cầu Công ty TNHH TM N thanh toán số tiền còn thiếu sau khi xử lý xong tầu N 19-ALCI với tổng số tiền là 11.373.692.331 đồng (Mười một tỷ ba trăm bảy mươi ba triệu sáu trăm chín hai ngàn ba trăm ba mươi mốt đồng) gồm: Nợ gốc 7.677.111.555 đồng, nợ lãi 3.706.580.766 đồng. Những văn bản thông báo này đều thay giấy mời người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH TM N đến làm việc tại trụ sở của ALCI HP. Tuy nhiên cơ quan chuyển phát bưu phẩm không tìm được người của Công ty TNHH TM N để giao những thông báo này.

Đến nay người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH TM N không đến làm việc và Công ty TNHH TM N không trả nợ cho ALCI HP.

Vì vậy ALCI HP đã làm đơn khởi kiện Công ty TNHH TM N tại Toà án nhân dân quận H, thành phố H đề nghị xét xử buộc Công ty TNHH TM N phải trả nợ cho ALCI số tiền là 12.127.700.727 đồng (số liệu tính hết ngày 19/10/2018), bao gồm: Nợ gốc 7.667.111.555 đồng, lãi trong hạn 3.736.973.393 đồng, lãi quá hạn 723.615.779 đồng.

Về tài sản bảo đảm: Khoản nợ không còn tài sản bảo đảm, tiền ký cược của Công ty TNHH TM N tại ALCI HP không còn.

Tại bản tự khai ngày 17/10/2018 bị đơn là Công ty TNHH TM N;; ngườ i đại diê ̣n theo phá p luật hiê ̣n nay : Ông Hoà ng Nam H , chứ c vụ: Giám đốc công ty TNHH TM N trình bày:

Đại diện Công ty TNHH TM N đồng ý với lời trình bày của đại diện Công ty cho thuê tài chinh I - Ngân hàng Nông nghiê ̣p và phát triển nông thôn chi nhánh

́ H (ALCI) về khoản vay, tiền lãi theo hợp đồng cho thuê tài chính nêu trên. Do tình hình kinh doanh vâ ̣ n tải biển trong nướ c và quốc tế gă ̣p khó khăn , nên Công ty TNHH TM N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cho thuê tài chinh I - Ngân

́ hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh H (ALCI). Nay Công ty cho thuê tài c hính I - Ngân hàng Nông nghiê ̣p và phát triển nông thôn chi nhánh H (ALCI) có đơn khởi kiện Công ty TNHH TM N ra Tòa án nhân dân quận H thì quan điểm của Công ty TNHH N đề nghị phía Công ty cho thuê tài chinh I - Ngân

́ hàng Nông nghiê ̣p và phát triển nông thôn chi nhánh H (ALCI) cho gia hạn thời gian trả nợ để công ty tôi cùng thu xếp với trả toàn bộ nợ cho Công ty cho thuê tài chính I - Ngân hàng Nông nghiê ̣p và phát triển nông thôn chi nhánh H (ALCI) và đề nghị Tòa án nhân dân quận Hải An tiến hành hòa giải . Công ty TNHH thương mại N thừa nhận toàn bộ khoản nợ gốc, lãi như nội dung ALCI đã khởi kiện và đồng ý trả toàn bộ số nợ gốc cho Công ty cho thuê tài chinh I - Ngân hàng Nông

́ nghiê ̣p và phát triển nông thôn chi nhánh H (ALCI) theo đúng Hợp đồng cho thuê tài chính đã ký kết.

Tuy nhiên đa ̣i diê ̣n Công tyTNHH TM N đề nghị Chi nhánh Công ty Cho thuê tài chính I - Ngân hàng Nông Nghiê ̣p và phát triển nông thôn Viê ̣t Nam xem xét cơ cấu la ̣i nợ cho Công ty TNHH TM N, miễn giảm tiền lai trong ha ̣̃

n và xin miễn toàn bộ lãi quá hạn cho Hợp đồng cho thuê tài chinh số 01/2013/HĐ-ALCI.

́

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự : Thẩm phán, Hô ̣i đồng xét xử , Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật; nguyên đơn, bị đơn đa chẫ

́p hành đúng các qu y đi ̣nh của pháp luâ ̣t Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án , đồng thời phát biểu quan điểm về nội dung giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Tranh chấp giữa Công ty cho thuê tài chinh I - Ngân hàng (ALCI) và Công

́

ty TNHH Thương ma ̣i Nam Vỹ là tranh chấp kinh doanh thương mại về hợp đồng cho thuê tài chính; bị đơn là Công ty TNHH TM N hiện có địa chỉ theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại: Số 8 lô 17 đườ ng B, phườ ng Đ, quâ ̣n H, thành phố H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b, g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét Hợp đồng cho thuê tài chính số 01/2013/HĐ-ALCI ngày 30/9/2013 của ALCI HP. Tài sản thuê tài chính là 01 (một) tàu biển chở hàng khô, vỏ thép, cấp hạn chế III mang tên “Thịnh An 36-ALCI”; giá trị tài sản thuê là 20.685.170.511 đồng (Tàu Thịnh An 36-ALCI đến ngày 07/04/2014 đổi tên thành tầu Nam Vỹ 19

- ALCI) được ký kết giữa các bên đều tuân thủ, đảm bảo đúng các quy định chung của pháp luật về hợp đồng thuê tài sản theo Bộ luật Dân sự 2005 khi giao kết và quy định tại Điều 112, Điều 113 Luật Ngân hàng & các tổ chức tín dụng năm 2010. Do vậy, cho thấy hợp đồng đã được giao kết trên là hợp đồng hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thoả thuận đã cam kết trong hợp đồng này.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Quá trình thực hiện Hợp đồng cho thuê tài chính số 01/2013/HĐ-ALCI ngày 30/9/2013 nêu trên, Công ty cho thuê tài chinh I - Ngân hàng (ALCI) đã thực hiện

́

đúng thỏa thuận trong hợp đồng tiến hành giao tài sản thuê là 01 (một) tàu biển chở hàng khô, vỏ thép, cấp hạn chế III mang tên “Thịnh An 36-ALCI”; giá trị tài sản thuê là 20.685.170.511 đồng cho bị đơn khai thác. Nhưng bị đơn là Công ty TNHH TM N đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thuê theo quy định trong hợp đồng, đúng kỳ hạn thanh toán như đã cam kết. Ngày 24/05/2017 ALCI HP đã thu hồi tàu Nam Vỹ 19-ALCI và ALCI HP đã tiến hành thẩm định cho Công ty TNHH VTB & TM P thuê lại tàu N 19-ALCI. Đến ngày 28/12/2017 ALCI HP và Công ty TNHH VTB & TM Phúc Hải ký Hợp đồng cho thuê số 02/2017/HĐ-ALCIHP, số tiền cho thuê là 10.000.000.000 đồng (Mười tỷ đồng). Nay ALCI khởi kiện Công ty TNHH TM N tại Toà án nhân dân quận H, thành phố H đề nghị xét xử buộc Công ty TNHH TM N phải trả nợ cho ALCI số tiền là 12.227.373.178 đồng (trong đó bao gồm: Nợ gốc 7.667.111.555 đồng, lãi trong hạn 3.836.645.844 đồng, lãi quá hạn 723.615.779 đồng), tính đến ngày 26/11/2018 và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng trên số tiền nợ gốc đến ngày bản án có hiệu lực pháp luật là có đủ cơ sở, hợp lý, có căn cứ.

Bị đơn Công ty TNHH TM N trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thừa nhận khoản nợ gốc, lãi như ALCI đã khởi kiện và đồng ý trả toàn bộ nợ gốc và xin miễn giảm khoản tiền lãi. ALCI không chấp nhận yêu cầu đề nghị này của Công ty TNHH TM N, nên không có cơ sở để xem xét.

Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận giữa các bên trong Hợp đồng thuê tài chính là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các Điều, khoản đã ghi trong Hợp đồng thuê tài chính đã ký kết. Tuy nhiên, Công ty TNHH TM N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê tài sản, nên ALCI HP đã thu hồi tài sản cho thuê đồng thời chấm dứt hợp đồng thuê tài sản quy định tại các Điều 489, Điều 490, Điều 491 Bộ luật Dân sự năm 2005. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ALCI và buộc Công ty TNHH TM N phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc, lãi (bao gồm lãi trong hạn và lãi quá hạn) tiền thuê tài sản còn lại như đã nêu ở trên.

Về án phi : ALCI không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại ALCI

́ HP số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Bị đơn Công ty TNHH TM N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật - khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 19 khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b, g khoản 1 Điều 40; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 480, Điều 489 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 357, Điều 481, khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 112, Điều 113 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn: Buộc Công ty TNHH TM N phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi còn lại ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Công ty cho thuê tài chinh I

- Ngân hàng (ALCI) với số tiền tổng cộng là

́ 12.227.373.178 đồng (Mười hai tỷ hai trăm hai mươi bẩy triệu ba trăm bẩy mươi ba nghìn một trăm bẩy tám đồng), trong đó bao gồm: Nợ gốc 7.667.111.555 đồng (Bẩy tỷ sáu trăm sáu mươi bẩy triệu một trăm mười một nghìn năm trăm năm năm đồng), lãi trong hạn 3.836.645.844 đồng (Ba tỷ tám trăm ba mươi sáu triệu sáu trăm bốn mươi năm nghìn tám trăm bốn bốn đồng), lãi quá hạn 723.615.779 đồng (Bẩy trăm hai mươi ba triệu sáu trăm mười năm nghìn bẩy trăm bẩy chín đồng), tính đến ngày 26/11/2018 và tiền lãi phát sinh đến ngày bản án có hiệu lực pháp luật theo Hợp đồng cho thuê tài chính số 01/2013/HĐ-ALCI ngày 30/9/2013 về việc cho thuê tài chính được xác lập, giao kết tại ALCI HP.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị đơn là Công ty TNHH TM N tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận được ghi trong Hợp đồng cho thuê tài chính số 01/2013/HĐ-ALCI ngày 30/9/2013 của ALCI HP về việc cho thuê tài chính cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng thuê tài chính, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho thuê theo từng thời kỳ của Công ty cho thuê tài chinh I - Ngân hàng (ALCI) thì lãi suất mà khách

́

hàng thuê tài chính phải tiếp tục thanh toán cho Công ty cho thuê tài chinh I - Ngân

́ hàng (ALCI) theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất cho thuê tài chính của Công ty cho thuê tài chinh I - Ngân

́ hàng (ALCI).

2. Kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà Bị đơn - Công ty TNHH TM N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ trên thì Công ty cho thuê tài chinh I - Ngân hàng (ALCI) có quyền đề nghị Cơ quan Thi

́ hành án Dân sự có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ cho Công ty cho thuê tài chinh I - Ngân hàng (ALCI).

́

3. Về án phí: Công ty cho thuê tài chinh I - Ngân hàng N(ALCI) không phải

́

chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Công ty cho thuê tài chi nh I - Ngân hàng

́ N(ALCI HP) số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu) là tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí ký hiệu AA/2014 số 0016611 ngày 26/9/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận H, thành phố H.

- Công ty TNHH TM N phải nộp 120.227.300 đồng (Một trăm hai mươi triệu hai trăm hai mươi bẩy nghìn ba trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Công ty cho thuê tài chính I - Ngân hàng N(ALCI), Công ty TNHH TM N có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ