vanban.org

Bản án 12/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau Tuyên án 26/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 4 Điều 123, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường v…

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản” Xử phạt bị cáo Hồ Văn D 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Văn D phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 4 Điều 123, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường v…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NĂM CĂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2018/HS-ST
Ngày 26-7-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Hoàng Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Quốc Trị

Ông Lê Văn Suốt

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Ẩn - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

- Họ tên: Hồ Văn D; sinh năm 1993; Nơi cư trú: Khóm 4, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Hồ Văn L và bà Trần Thị S; Vợ tên Trịnh Thị T, sinh năm 1994; Con 01 người (sinh năm 2015); Tiền án, tiền sự: Không; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/5/2018 đến ngày 26/7/2018.

- Những người bị hại:

1. Anh Lê Tuấn K, sinh năm 1986 (vắng mặt).

2. Anh Lê Văn T, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ nơi cư trú: Khóm 7, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

29/3/2017,

1

K

T

. T1

Lê Văn T

. T1

D

, T1 đưa cho D

), D

K (b

Ngân

Ngân hàng

K

K

-

–

, D

T1

D

, D

, T1

T

. Văn D

.

K

Lê Văn T

1

, T1

D

sản

K đối tượng cùng tang vật cho Công an huyện Năm Căn xử lý theo thẩm quyền.

29/3/2017.

-

:

- 01 điện thoại Tr

01/2017. T

;

- 01 điện thoại

.

05/4/2017, Cơ q

1

7.000.0

K, anh K

. Anh Lê Văn T

.

Văn T1 T

Lê Văn T

T đ Th

.

; đe Văn D.

26/4/2018,

1 t Văn D

, D anh K

. D

,

1

D

7.000

, D chia cho T

D

.

19/6/2018,

1

, D

T

Lê Văn T

T

D

.

Tại bản cáo trạng số: 14/CT-VKSNC ngày 26 tháng 6 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau truy tố đối với bị cáo Hồ Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo D từ 06 đến 09 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu và tiêu hủy 01 USB hiệu Transcend. Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong, nên không đặt ra xem xét.

- Bị cáo D thống nhất với nội dung bản cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, mức hình phạt đề nghị là phù hợp, nhưng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Năm Căn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Thư ký ghi biên bản phiên tòa đã tuân thủ đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo D tại phiên tòa, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 04 giờ ngày 29/3/2017 Hồ Văn D và Võ Văn T1 lợi dụng đêm khuya, lén lúc đột nhập vào kho đại lý bia Thanh Hải tại khóm 7 – thị trấn Năm Căn – huyện Năm Căn để lấy trộm của anh Lê Tuấn K 01 cái bóp, có số tiền là 7.000.000 đồng và 02 điện thoại di động của anh Lê Văn T với tổng giá trị là 990.000 đồng, tổng giá trị tài sản mà bị cáo D và Thạnh đã chiếm đoạt là 7.990.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo D phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 như Viện kiểm sát đã viện dẫn để truy tố trong bản cáo trạng là đúng. Tuy nhiên, hiện nay chính sách pháp luật hình sự có sự thay đổi, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì quy định nhẹ hơn so với khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, để áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo D như Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn truy tố theo bản cáo trạng số 14/CT-VKSNC ngày 26/6/2018 là phù hợp, có căn cứ và có lợi cho bị cáo nên được chấp nhận.

Hành vi của bị cáo D là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng lúc đêm khuya, mọi người đang ngủ, thiếu cảnh giác, đã lén lút lấy trộm tài sản, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; đồng thời, hành vi của bị cáo D gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân; Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Tòa án xử phạt về hành vi cướp giật tài sản, đã được xóa án tích. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội; góp phần tuyên truyền pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo D thành khẩn khai cáo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện cùng gia đình của Thạnh nộp tiền bồi thường cho gia đình của bị hại; bị cáo D đã ra cơ quan công an để đầu thú. Do đó, bị cáo D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được xử lý tại bản án số: 19/2017/HSST ngày 26/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, nên không đặt ra xem xét trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đối với USB hiệu Transcend không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy (vật chứng hiện nay Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn đang quản lý).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo D phải chịu là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 4 Điều 123, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2. Xử phạt bị cáo Hồ Văn D 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Tiếp tục cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo D kể từ ngày tuyên án cho đến khi đi chấp hành án phạt tù.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 USB hiệu Transcend (vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn đang quản lý).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo D phải chịu là 200.000 đồng.

Án xử sơ thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ