vanban.org

Bản án 12/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Ba Vì, TP. Hà Nội Tuyên án 20/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Phùng Văn A, Phùng Văn B phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo: Phùng Văn A 40 (Bốn mƣơi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 21/9/2017. Xử phạt bị cáo Phùng Văn B 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 21/9/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn A và Phùng Văn B phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phùng Văn A, Phùng Văn B phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2018/HS-ST
Ngày: 20/3/2018.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hƣờng;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Thuật;

Bà Ngô Thị Kim Quế;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, TP. Hà Nội;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì , TP. Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2017/TLST-HS ngày 08 tháng 2 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: PHÙNG VĂN A – Sinh 1990; Nơi cư trú: xóm 2, thôn X, xã Y, huyện Quốc Oai, TP. Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông: Phùng Văn C – sinh năm 1954 và bà Phí Thị H – sinh năm 1958; Vợ: Nguyễn Thị E– sinh năm 1992, con: có 01 con sinh năm 2016; tiền án,tiền sự: Không; Tạm giam từ ngày 21/09/2017 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: PHÙNG VĂN B – Sinh năm 1991; Nơi cư trú: thôn X, xã Hòa Thạch, huyện Quốc Oai, TP. Hà Nội; Nghề nghịêp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa:12 /12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông: Phùng Văn U – sinh năm 1963 và bà Kiều Thị N – sinh năm 1964; Vợ: Phùng Thị S – sinh năm 1989, Con: có 2 con, con lớn sinh năm 2012, con bé sinh năm 2015; Tiền án,Tiền sự: không có; Tạm giam từ ngày 21/09/2017 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại:

1. Chị Dƣơng Thị D – sinh năm 1982;

TQ: thôn P, xã Q, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội;

2. Chị Phùng Thị G – sinh năm 1984;

TQ: thôn P1, xã Q, huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội;

3. Ông Phùng Viết T – sinh năm 1960;

TQ: thôn P1, xã Q, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội;

4. Anh Nguyễn Mạnh L – sinh năm 1988;

TQ: thôn P, xã Q, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội;

5. Ông Bùi Văn K - sinh năm 1957;

TQ: thôn 9, xã Q1, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội;

6. Anh Bùi Văn V – sinh năm 1983;

TQ: thôn X1, xã Y1, huyện Quốc Oai, TP. Hà Nội;

7. Chị Phạm Thị M – sinh năm 1982;

TQ: thôn X2, xã Y2, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội;

( Chị D, chị G có mặt tại phiên toà, ông K, anh V, ông T, anh L, chị M vắng mặt tại phiên toà )

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị E– sinh 1992

TQ; Xóm 2, thôn X, xã Hoà Thạch Y3, huyện Quốc Oai, TP. Hà Nội

( chị E có mặt tại phiên toà )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ đầu tháng 09/2017 đến ngày 21/09/2017, A và B đã cùng thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản Phùng Văn A trực tiếp vào lấy trộm, Phùng Văn B đứng ngoài cảnh giới trên địa bàn huyện Ba Vì và 01 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Quốc Oai - Hà Nội. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 11 giờ ngày 02/09/2017, A sử dụng điện thoại Nokia 1202 màu ghi của mình gọi điện thoại cho B rủ đi trộm cắp tài sản thì B đồng ý. Sau đó, B và A mang theo dụng cụ đã chuẩn bị trước đó và điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 29V7-27705 (là xe của gia đình A) đi lên khu vực P1 - Ba Vì - Hà Nội. Đến nhà chị Dương Thị D (SN: 1982, HKTT: thôn P - Q - Ba Vì - Hà Nội) . A đem theo kìm cộng lực, trèo qua tường bao (có hàng rào sắt) phía trước vào sân nhà chị D. Sau đó, A dùng kìm cộng lực cắt đứt móc ổ khóa Việt Tiệp đang khóa cửa chính (loại cửa xếp sắt hai cánh kéo ngang) và đột nhập trong nhà. Phùng Văn A đã lấy được một chiếc Laptop màu đen, nhãn hiệu Lenovo cùng dây sạc, 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng và số tiền 15.155.000đ (Mười lăm triệu một trăm năm mươi lăm nghìn đồng), 03 (Ba) chiếc nhẫn tròn trơn bằng kim loại màu vàng, 01(Một) đôi hoa tai bằng kim loại màu vàng, 01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng, 02 (Hai) quyển sổ gửi tiền tiết kiệm ngân hàng mang tên Dương Thị D, 01 (Một) mặt dây chuyền bằng nhựa bên trong có mảnh kim loại màu vàng hình phật, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X1 màu đen. Sau đó, A mang tất cả số tài sản trộm đến chỗ B đang đứng chờ. Khi đi đến cầu P2 – Q, A vứt bỏ 2 quyển số tiết kiệm xuống lề đường. Do muốn được hưởng tài sản trộm cắp nhiều hơn B, trên đường đi, A đã đếm riêng số tiền 11.000.000đ (Mười một triệu đồng) trong tổng số tiền mặt trộm cắp được của nhà chị D rồi A nói với B là chỉ trộm cắp được của nhà chị D 11.000.000đ (Mười một triệu đồng) tiền mặt, điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X1 màu đen và chiếc Laptop cùng dây sạc Laptop. Số tiền còn lại (4.155.000đ) và toàn bộ số nhẫn, dây chuyền, mặt dây chuyền, hoa tai bằng kim loại màu vàng, bạc trộm được của nhà chị D, A cất giữ riêng cho bản thân, không nói với B. Khi về đến nhà, A chia cho B 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X1 màu đen. Chiếc Laptop và dây sạc được A và B bán cho một cửa hàng mua bán máy vi tính với số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). A tiếp tục chia cho B 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền được chia, B đã tiêu sài hết. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X1 màu đen, B đem về nhà cất. Số tiền được chia và số tiền chiếm giữ riêng, A chuyển vào tài khoản ngân hàng mang tên A còn số tài sản gồm nhẫn, hoa tai, dây chuyền lấy trộm được, A đem về nhà cất giấu. Tổng tài sản A và B lấy trợm của nhà chị D là 41.096.000đ ( Bốn mươi mốt triệu không trăm chín mươi sáu nghìn đồng )

- Vụ thứ hai: khoảng 8 giờ ngày 10/09/2017, B điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave ZX màu trắng, BKS: 33N7 - 1863 (Là xe của gia đình B) đến đón A mang theo túi đựng công cụ đi lên địa bàn huyện Ba Vì để trộm cắp tài sản nhà chị Phùng Thị G (SN: 1984, HKTT: thôn P1 - Q - Ba Vì- Hà Nội) lấy được 01 hộp máy khoan bên trong có một máy khoan và đồ dùng máy khoan, 01 cây máy vi tính nhãn hiệu MAX. Quan sát thấy nhà ông Phùng Viết T (SN: 1960, HKTT: Phường X4 – Y4

- Hà Nội) ở giáp nhà chị G không có ai ở nhà lấy được 02 búa đinh, 01 đầu búa, 01 con dao rựa, 01 tuốc nơ vít, A mang sang nhà chị G đập két sắt lấy được 01(Một) sợi dây chuyền có mặt hình trái tim bằng kim loại màu vàng; 01(Một) nhẫn tròn trơn bằng kim loại màu vàng; 01(Một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng có treo nanh động vật; 01 (Một) hộp nhựa nhỏ màu trắng bên trong có hai chiếc nhẫn tròn trơn bằng kim loại màu vàng (loại nhẫn cưới) và một sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng; 01(Một) hộp nhựa đựng nhẫn màu đỏ bên trong có một sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng và số tiền 6.730.000đ (Sáu triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng) và một chiếc điện thoại di động Nokia X3 màu đen, viền đỏ và một chiếc điện thoại di động SAMSUNG Galaxy màu đen (không có pin). Trên đường đi về, A nói với B trộm được của nhà chị G khoảng hơn 1.000.000đ tiền mặt; một túi nilon bên trong đựng vàng, bạc; hai chiếc điện thoại; cây máy vi tính và hộp máy khoan (Mục đích để chiếm riêng số tiền mặt còn lại là 5.530.000đ). Tại đây, A chia cho B 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng). Sau đó, A cùng B mang sợi dây chuyền có mặt hình trái tim bằng kim loại màu vàng; chiếc nhẫn tròn trơn bằng kim loại màu vàng; hai chiếc nhẫn tròn trơn bằng kim loại màu vàng (loại nhẫn cưới); sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng để trong hộp nhựa đựng nhẫn màu đã đến cửa hàng vàng bạc Bảo Châu ở chợ Xuân Mai – Q2 - Hà Nội bán được số tiền 17.600.000đ. A chia cho B 8.800.000đ (Tám triệu tám trăm nghìn đồng) và hộp máy khoan cùng chiếc máy khoan. Số tiền được chia, B đã tiêu sài hết. Hộp máy khoan cùng chiếc máy khoan, B đem về nhà cất. Số tiền được chia và tiền cất giấu riêng, A chuyển vào tài khoản ngân hàng mang tên A. Số tài sản gồm hai sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng, hai chiếc điện thoại A đem về nhà cất giấu. Tổng tài sản A và B trộm nhà chị G là 33.986.500đ ( Ba mươi ba triệu, chín trăm tám mươi sáu ngàn, năm trăm đồng )

- Vụ thứ ba: Khoảng 9 giờ ngày 17/9/2017, A tiếp tục gọi điện thoại rủ B đi trộm cắp tài sản. A điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave Anpha màu đen, BKS: 29V7 - 277.05 đến nhà đón B mang theo kìm cộng lực và túi đựng công cụ trộm cắp. Sau đó, B điều khiển xe máy chở A đi lên địa bàn xã Q - huyện Ba Vì lấy trộm nhà anh Nguyễn Mạnh L (SN: 1988, HKTT: Thôn P - Q - Ba Vì) Phùng Văn A lật úp mặt két sắt xuống nền nhà rồi dùng dao rựa bổ mạnh vào giữa lưng két sắt làm kim loại phía sau lưng két sắt bị rách, đứt tạo thành lỗ hổng. A thò tay vào két sắt qua lỗ hổng lục tìm tài sản và lấy được một hộp bên trong có : 01 (một) kiềng đeo cổ bằng kim loại màu vàng, mặt kiềng có khắc hoa văn và 01 chiếc nhẫn tròn trơn bằng kim loại màu vàng và một chiếc ví da màu nâu không có tiền mà chỉ có một số giấy tờ của anh L. A nói với B trộm được 01 chiếc kiềng đeo cổ bằng vàng, 01 ví da và 01 hộp nhựa hình chữ nhật đựng đồ cắt móng tay. Sau đó, cả hai đem chiếc kiềng đeo cổ đến bán cho cửa hàng vàng, bạc “Khanh Chức” trong chợ Xuân Mai – Q2 - Hà Nội được số tiền 10.300.000đ. Số tiền trên, A chia cho B 5.150.000đ (Năm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền được chia, B đã tiêu sài hết. Về phía A đem chuyển tiền vào tài khoản của mình và cất giấu chiếc nhẫn tròn bằng kim loại màu vàng tại nhà. Tổng giá trị tài sản mà A và B lấy trộm của nhà anh L là 14.000.000đ ( Mười bốn triệu đồng chẵn )

- Vụ thứ tƣ: Khoảng 9 giờ ngày 19/9/2017, A tiếp tục rủ B đi trộm cắp tài sản. A điều khiển xe máy Honda Dream BKS: 33L1 - 5091 của gia đình A đến nhà đón B. Khi B và A đi đến địa phận thôn 9 - Q1 - Ba Vì thì phát hiện nhà ông Bùi Văn K (Sn: 1957, HKTT: Thôn 9 - Q1 - Ba Vì - Hà Nội) lấy được số tiền 4.800.000đ và một cục pin điện. Trên đường đi, A nói với B chỉ trộm được cục pin điện thoại để chiếm riêng số tiền trộm được của nhà ông K mà không chia cho B. Số tiền trên, A chuyển vào tài khoản ngân hàng mang tên A để sử dụng dần. Tổng giá trị tài sản mà A và B lấy trộm của nhà ông K là 4.800.000đ (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng)

Vụ thứ năm: Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 21/9/2017, B gọi điện thoại rủ A đi trộm cắp tài sản, A đồng ý. A điều khiển xe máy Honda Dream, BKS: 33L1 - 5091 của gia đình A đến nhà đón B. Sau đó, B điều khiển xe máy trên chở A mang theo công cụ chuẩn bị từ trước lên địa bàn huyện Ba Vì - Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi đi qua địa phận thôn X1 - Y1 - Quốc Oai - Hà Nội, phát hiện nhà anh Bùi Văn V (Sn: 1983, HKTT: thôn X1 - Y1 - Quốc Oai - Hà Nội) lấy được số tiền 90.000đ và một chiếc túi đựng Laptop bên trong có 01 Laptop nhãn hiệu Lenovo màu đen, 01 dây sạc Laptop và 01 chuột vi tính không dây. Do vụ án thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Công an huyện Quốc Oai – Hà Nội nên Cơ quan điều tra Công an huyện Ba Vì đã thông báo tới Cơ quan điều tra công an huyện Quốc Oai để thụ lý, giải quyết. Ngày 23/11/2017, cơ quan điều tra Công an huyện Quốc Oai có công văn số 07 ủy quyền cho cơ quan điều tra công an huyện Ba Vì điều tra, giải quyết đối với vụ án trên. Tổng giá trị tài sản mà A và B lấy trộm của nhà anh V là 3.360.000đ (Ba triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

Vụ thứ 6: Sau khi lấy trộm tài sản ở nhà anh Bùi Văn V, B và A tiếp tục đi lên địa bàn huyện Ba Vì. Khi đi đến địa phận xã Y2 - Ba Vì, phát hiện nhà chị Phạm Thị M (SN: 1982, HKTT: Thôn X2 - Y2 - Ba Vì) lấy được 02 (Hai) sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng và 01 (Một) thắt lưng da, mặt thắt lưng bằng kim loại màu vàng có chữ “CA” và một chiếc Laptop nhãn hiệu Acer màu đen, 01 dây sạc Laptop và 01 túi đựng Laptop. Tổng giá trị tài sản B và A đã lấy trộm của nhà chị M là 3.476.000đ (Ba triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn đồng)

Cơ quan điều tra đã ra lệnh khám xét tại nơi ở của B và A thu được các tài sản sau:

Thu giữ khi khám xét nhà Phùng Văn A: 01 (một) ĐTDĐ SAMSUNG S5360 màu trắng, số Imei: 355253/05/153511/6 (đã qua sử dụng; 01 (một) ĐTDĐ Nokia X3 màu đen, viền đỏ, số Imei: 353770048023148 (đã qua sử dụng); 01 (một) ĐTDĐ SAMSUNG J100 màu trắng, số Imei: 354467/07/339470/5 (đã qua sử dụng); 01 (một) ĐTDĐ Nokia 1680C/2 màu đen, số Imei: 356799/02/789222/0 (không có pin, đã qua sử dụng); 01 (một) ĐTDĐ SAMSUNG GT-I9000, số Imei: 354581/04/347853/7 (không có pin, đã qua sử dụng); 01 (một) lắc tay bằng kim loại màu trắng; 03 (ba) sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng đựng trong hộp nhựa màu trắng; 04 (bốn) nhẫn tròn trơn bằng kim loại màu vàng đựng trong hộp nhựa màu đỏ; 01 (một) đôi hoa tai bằng kim loại màu vàng đựng trong hộp nhựa màu đỏ; 01 (một) mặt dây truyền bằng nhựa màu trắng trong suốt, bên trong có mảnh kim loại màu vàng hình phật; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng, mặt nhẫn có hình cánh hoa; 01 (một) sợi dây truyền bằng kim loại màu trắng, có treo nanh động vật; 01 (một) kiềng bằng kim loại màu vàng (vòng đeo tay); 01 (một) cây máy vi tính nhãn hiệu “MAX”; 01 (một) màn hình máy vi tính LG L17428SE-PF, Seri: 004VNQS1G292; 01 (một) bàn phím máy vi tính, 01 (một) chuột vi tính, 01 (một) tai nghe vi tính; Số tiền: 5.100.000đ (năm triệu một trăm nghìn đồng); 03 (ba) hộp nhựa đựng nhẫn màu đỏ; 01 (một) thẻ khách hàng, 01 (một) thẻ thanh toán mang tên Nguyễn Mạnh L.

Thu giữ khi khám xét nhà Phùng Văn B: 01 (một) ĐTDĐ Nokia X1 màu đen, số Imei 1: 354602/05/864460/5, số Imei 2: 354602/05/864461/3 (không có pin, đã qua sử dụng); 01 (một) hộp máy khoan màu xanh.

Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì số 61/2017/KL-ĐGTS ngày 14/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì kết luận:

- 01(một) ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia X3, màu đen, viền đỏ, số Imei: 353770048023148 (đã qua sử dụng) trị giá: 300.000đ;

- 01(một) ĐTDĐ SAMSUNG GT I9000, số Imei: 354581/04/347853/7 (không có pin, đã qua sử dụng) trị giá:: 400.000đ;

- 01(một) ĐTDĐ Nokia X1 màu đen, số Imei 1: 354602/05/864460/5, số Imei 2: 354602/05/864461/3 (không có pin, đã qua sử dụng) trị giá: 250.000đ;

- 01(một) laptop nhãn hiệu Lenovo màu đen (đã qua sử dụng) trị giá: 3.500.000đ;

- 01(một) dây sạc laptop nhãn hiệu Lenovo màu đen (đã qua sử dụng) trị giá: 150.000đ;

- 01(một) laptop nhãn hiệu Lenovo màu đen dài 34cm, rộng 24cm (đã qua sử dụng) trị giá: 3.000.000đ;

- 01(một) dây sạc laptop nhãn hiệu Lenovo màu đen (đã qua sử dụng) trị giá: 150.000đ;

- 01(một) chuột máy tính (loại chuột không dây) nhãn hiệu Genlus, màu đen trị giá: 50.000đ;

- 01(một) túi đựng Laptop (đã qua sử dụng) trị giá: 70.000đ;

- 01(một) laptop nhãn hiệu Acer màu đen (đã qua sử dụng) trị giá: 3.000.000đ;

- 01(một) cục sạc laptop nhãn hiệu Chiconi màu đen (đã qua sử dụng) trị giá: 100.000đ;

- 01(một) túi đựng Laptop (đã qua sử dụng) trị giá: 70.000đ;

- 01(một) cây máy vi tính nhãn hiệu “MAX” (đã qua sử dụng) trị giá: 2.000.000đ;

- 02(hai) chiếc két sắt nhãn hiệu Việt Tiệp, loại 1,2 tạ (đã qua sử dụng) trị giá: 1.700.000đ;

- 04(bốn) ổ khóa Việt Tiệp màu đen, loại to (cầu 10), đã qua sử dụng trị giá: 80.000đ;

- 02(hai) ổ khóa Việt tiệp màu đen, loại trung (cầu 8), đã qua sử dụng trị giá: 120.000đ;

- 01(một) hộp máy khoan màu xanh, bên trong có một máy khoan và các đồ dùng máy khoan (đã qua sử dụng) trị giá: 1.000.000đ;

- 01(một) dao tông bằng kim loại, chuôi dao dài 11cm, lưỡi dao dài 29cm, bản rộng nhất 7,5cm (đã qua sử dụng) trị giá: 25.000đ;

- 01(một) tô vít bốn cạnh, dài 24,5cm, có cán bọc nhựa màu đỏ-đen, dài 11cm (đã qua sử dụng) trị giá: 15.000đ;

- 01(một) búa cầm tay, chuôi bằng gỗ dài 23cm, đường kính 04cm, đầu búa bằng kim loại dài 12cm (đã qua sử dụng) trị giá: 40.000đ;

- 01(một) kìm cầm tay, tay cầm bọc cao su viền đỏ (đã qua sử dụng) trị giá: 15.000đ;

- 01(một) đột sắt dài khoảng 20cm (loại phi 14), môt đầu tù, một đầu dẹt (đã qua sử dụng) trị giá: 8.000đ.

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 173/CSĐT ngày 03/10/2017 và Quyết định trưng cầu định giá tài sản số: 01/CSĐT ngày 17/11/2017 để trưng cầu trưng cầu Viện Khoa học hình sự - BCA và Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì giám định chất liệu các tài sản bằng kim loại màu Vàng, màu trắng mà các bị can Phùng Văn A, Phùng Văn B đã trộm cắp được trong các vụ trộm cắp tài sản (Cơ quan điều tra đã thu giữ được như nêu ở trên) và định giá các tài sản đó. Tại bản Kết luận giám định số: 4986/C54(P4) ngày 27/10/2017 của Viện KHHS- BCA và bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì số 62/2017/KL-ĐGTS ngày 12/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì kết luận:

- 01(một) dây chuyền bằng kim loại màu trắng dài 49cm, được chế tác dạng các móc xích và hình chữ nhật nối với nhau có tổng khối lượng là 17,21 gam là Bạc (Ag) trang sức, ngoài ra còn có Kẽm (Zn), Đồng (Cu). Hàm lượng trung bình: Ag: 84,43%, Zn: 12,35%, Cu: 3,22%, có giá trị: 229.400 đồng.

- 01(một) dây chuyền bằng kim loại màu trắng dài 38cm, được chế tác dạng các móc xích nối với nhau có tổng khối lượng là 5,76 gam là Bạc (Ag) trang sức ngoài ra còn có Kẽm (Zn), Đồng (Cu). Hàm lượng trung bình: Ag: 98,26%, Zn: 0,87%, Cu: 0,87%, có giá trị: 76.800 đồng.

- 01(một) lắc tay (vòng đeo tay) bằng kim loại màu trắng có khối lượng: 8,90 gam là Sắt (Fe) ngoài ra còn có Đồng (Cu). Hàm lượng trung bình: Fe: 97,43%, Cu: 2,57%. Lắc tay có màu trắng do được mạ Rođi (Rh), (xác định là tài sản của Phùng Văn A, không liên quan đến vụn án nên cơ quan điều tra không trưng cầu định giá);

- 01(một) dây chuyền bằng kim loại màu trắng dài 54,5cm, được chế tác dạng các móc xích và hình chữ nhật nối với nhau nối với nhau có tổng khối lượng là 4,54 gam là Bạc (Ag) trang sức ngoài ra còn có Đồng (Cu), Kẽm (Zn). Hàm lượng trung bình: Ag: 98,25%, Cu: 1,34%, Zn: 0,41%, có giá trị: 60.500 đồng;

- 01(một) dây chuyền bằng kim loại màu trắng dài 50cm, được chế tác dạng các móc xích nối với nhau có tổng khối lượng là 14,53 gam là Bạc (Ag) ngoài ra còn có Đồng (Cu). Hàm lượng trung bình: Ag: 99,01%, Cu: 0,99%, có giá trị: 193.733 đồng;

- 01(một) dây chuyền bằng kim loại màu trắng dài 38cm, được chế tác dạng các móc xích nối với nhau có tổng khối lượng là 6,83 gam là Bạc (Ag) trang sức ngoài ra còn có Kẽm (Zn), Đồng (Cu). Hàm lượng trung bình: Ag: 90,61%, Zn: 5,61%, Cu: 3,78%, có giá trị: 91.000 đồng;

- 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu trắng dài 65cm có treo nanh động vật, nanh động vật một đầu bọc kim loại màu trắng, in hoa văn, có móc treo vào dây chuyền có tổng khối lượng (tính cả nanh động vật): 93,43 gam, phần kim loại là Bạc (Ag) trang sức ngoài ra còn có Đồng (Cu). Hàm lượng trung bình: Ag: 98,38%, Cu: 1,62%, có giá trị: 1.246.000 đồng;

- 01(một) nhẫn tròn trơn bằng kim loại màu vàng, mặt trong nhẫn có khắc chữ, số “2 CHI long vũ 9999” có khối lượng: 7,50gam là Vàng (Au) ngoài ra còn có Bạc (Ag). Hàm lượng: Au: 98,39%, Ag: 1,61%, có giá trị: 7.000.000 đồng;

- 01(một) nhẫn tròn trơn bằng kim loại màu vàng, mặt trong nhẫn có khắc chữ, số “1 chỉ Vinh Quang 9999” có khối lượng: 3,75gam là Vàng (Au) ngoài ra còn có Bạc (Ag). Hàm lượng: Au: 99,97%, Ag: 0,03%, có giá trị: 3.500.000 đồng;

- 01(một) nhẫn tròn trơn bằng kim loại màu vàng, mặt trong nhẫn có khắc chữ, số “9999 Mỹ Hạnh - 18- HĐ 1 CHI” có khối lượng: 3,68gam là Vàng (Au) ngoài ra còn có Bạc (Ag). Hàm lượng: Au: 99,98%, Ag: 0,02%, có giá trị: 3.500.000 đồng;

- 01(một) nhẫn tròn trơn bằng kim loại màu vàng, mặt trong nhẫn có khắc chữ, số “VB HA TAY 1 CHỈ 9999” và một số chữ không rõ có khối lượng: 3,49gam là Vàng (Au) ngoài ra còn có Bạc (Ag). Hàm lượng: Au: 99,98%, Ag: 0,02%, có giá trị: 3.260.000 đồng;

- 01 (một) đôi hoa tai bằng kim loại màu vàng, mặt trong đôi hoa tai đều có khắc chữ, số “TM * KL 1,5 CHỈ” có tổng khối lượng: 5,63gam đều là Vàng (Au) ngoài ra còn có Bạc (Ag). Hàm lượng trung bình: Au: 99,86%, Ag: 0,14%, có giá trị: 5.254.000 đồng;

- 01 (một) kiềng (lắc tay) bằng kim loại màu vàng, mặt trong kiềng có khắc chữ, số “VN10KV” có khối lượng: 7,25gam là Vàng (Au) ngoài ra còn có Đồng (Cu), Kẽm (Zn), Bạc (Ag). Hàm lượng trung bình: Au: 43,40%, Cu: 45,07%, Zn: 6,62%, Ag: 4,91%, có giá trị: 2.936.000 đồng;

Ngoài ra, tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì số 62/2017/KL-ĐGTS ngày 12/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì còn xác định giá trị số tài sản là kim loại vàng, bạc của các gia đình bị hại bị mất trộm thông qua việc định giá theo hồ sơ, tài liệu, chứng cứ. Bao gồm:

- 01 (một) nhẫn Vàng 9999 một chỉ, của gia đình chị Phùng Thị G, có giá trị: 3.500.000 đồng;

- 01 (một) dây chuyền Vàng 9999 ba chỉ, của gia đình chị Phùng Thị G, có giá trị: 10.500.000 đồng;

- 01 (một) dây chuyền Vàng ý 3,5 chỉ, của gia đình chị Phùng Thị G, có giá trị: 5.250.000 đồng;

- 01 (một) đôi nhẫn cưới Vàng tây 2 chỉ của gia đình chị Phùng Thị G, có giá trị: 3.000.000 đồng;

- 01 (một) kiềng đeo cổ Vàng 9999 ba chỉ, của gia đình anh Nguyễn Mạnh L, có giá trị: 10.500.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản mà B và A đã chiếm đoạt của các gia đình là 100.798.500đ (Một trăm triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn năm trăm đồng).

Về dân sự:

Gia đình chị Dương Thị D đã được Cơ quan điều tra trao trả các tài sản gồm: 01 điện thoại di động Nokia X1 màu đen; 01 nhẫn kim loại màu vàng, mặt nhẫn có in hình cánh hoa; 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng dài 38m; 01 nhẫn tròn trơn bằng kim loại màu vàng có in dòng chữ “2 CHỈ LONG VŨ 9999”; 01 nhẫn tròn trơn bằng kim loại màu vàng có in dòng chữ “9999 MỸ HẠNH - 18- HĐ 1 CHỈ; 01 nhẫn tròn trơn bằng kim loại màu vàng có in dòng chữ “VB HÀ TÂY 1 CHỈ 9999”; 01 đôi hoa tai bằng vàng có in chữ “TM*KL 1,5 CHỈ”; 01 kiềng lắc tay bằng kim loại màu vàng có in chữ “VN 10KV”; 01 mặt dây chuyền bằng nhựa trong suốt bên trong có mảnh kim loại màu vàng hình phật; 01 thìa bằng kim loại; 01 túi nilon có chữ “SACO”; 01 túi da màu đen; 01 tập tài liệu; 03 tờ tiền mệnh giá 2000đ; 01 hộp đựng bàn chải đánh răng; 01 phong bao lì xì màu đỏ và 01 hộp đựng nhẫn màu đỏ. Ngoài ra, gia đình A đã tự nguyện bồi thường cho chị D số tiền: 11.325.000đ, gia đình B tự nguyện bồi thường số tiền: 7.325.000d. Chiếc ổ khóa Việt Tiệp bị phá hỏng do giá trị nhỏ nên chị D không yêu cầu bồi thường. Chị D không có yêu cầu gì về dân sự.

Gia đình chị Phùng Thị G đã được Cơ quan điều tra trao trả: 01 điện thoại di động Nokia X3 màu đen viền đỏ; 01 điện thoại Samsung GT I9000; 01 cây máy vi tính nhãn hiệu “MAX”; 01 hộp đựng máy khoan màu xanh và đồ dùng máy khoan; 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng dài 54,5 cm; 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng có treo nanh động vật; 01 túi nilon màu đen; 01 túi nilon màu đỏ; 01 túi nilon màu xám; 13 phong bao lì xì màu đỏ; 01 phong bì thư của ngân hàng BIDV; 02 thẻ EVEN Hà Nội; 01 két sắt nhãn hiệu Việt Tiệp bị cạy phá thủng phía sau. Ngoài ra, gia đình A đã tự nguyện bồi thường cho chị G số tiền: 6.110.000đ, gia đình B tự nguyện bồi thường số tiền: 13.525.000đ. Hai chiếc ổ khóa Việt Tiệp bị phá hỏng do giá trị nhỏ nên chị G không yêu cầu bồi thường. Chị G yêu cầu Phùng Văn A phải tiếp tục bồi thường số tiền 12.945.000đ.

Ông Phùng Viết T đã được cơ quan điều tra trao trả các tài sản gồm: 02 búa đinh cầm tay; 01 dao rựa bằng kim loại; 01 tuốc nơ vít có cán bằng nhựa màu đỏ. Ông T không có yêu cầu gì khác về dân sự.

Gia đình anh Nguyễn Mạnh L, chị Trần Thị R đã được cơ quan điều tra trao trả: 01 dao rựa bằng kim loại màu đen; 01 ví giả da màu nâu; 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ ATM ngân hàng BIDV, 01 thẻ khách hàng, 01 thẻ thanh toán mang tên Nguyễn Mạnh L; 01 hộp nhựa vỏ bọc giả da; 01 nhẫn tròn trơn bằng kim loại màu vàng có in chữ “1CHỈ VINH QUANG 9999”; 01 căn cước công dân, chứng minh thư nhân dân, 01 giấy khai sinh mang tên Nguyễn Mạnh L; 01 bằng tốt nghiệp cao đẳng giáo dục tiểu học, 01 bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, 01 giấy khai sinh và 01 bản sao bằng tốt nghiệp cao đẳng giáo dục tiểu học mang tên Trần Thị R ; 01 giấy chứng nhận kết hôn; 01 túi nilon đựng tài liệu; 01 két sắt nhãn hiệu Việt Tiệp đã bị cạy phá thủng phía sau và 01 hộp đựng nhẫn màu đỏ. Ngoài ra, gia đình A đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh L số tiền: 5.675.000đ, gia đình B tự nguyện bồi thường số tiền: 5.675.000đ. Chiếc ổ khóa Việt Tiệp bị phá hỏng do giá trị nhỏ nên gia đình anh L không yêu cầu bồi thường. Gia đình anh L không có yêu cầu gì về dân sự.

Gia đình anh Bùi Văn K đã được cơ quan điều tra trao trả: 01 dao rựa bằng kim loại. Ngoài ra, gia đình A đã tự nguyện bồi thường cho anh K số tiền 4.800.000đ. Cục pin điện thoại khi bị mất đã hư hỏng, không sử dụng được và ổ khóa Việt Tiệp, thanh sắt chốt cửa bị phá hỏng do giá trị nhỏ nên anh K không yêu cầu bồi thường. Anh K không có yêu cầu gì về dân sự.

Chị Phạm Thị M đã được cơ quan điều tra trao trả: 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng dài 49 cm; 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng dài 38 cm; 01 laptop nhãn hiệu ACER màu đen; 01 túi sách màu đen (dạng vải nilon); 01 cục sạc laptop nhãn hiệu Chiconi màu đen; 01 dây lưng giả da màu nâu có chữ “CA”; 01 xà beng bằng sắt. Đối với chiếc khóa cửa bị cắt đứt, do giá trị nhỏ nên chị M không yêu cầu bồi thường. Chị M không có yêu cầu gì về dân sự.

Anh Bùi Văn V đã được cơ quan điều tra trao trả: 01 laptop nhãn hiệu LENOVO màu đen; 01 túi vải màu đen nhãn hiệu Toshiba; 01 cục sạc laptop nhãn hiệu LENOVO màu đen; 01 chuột máy tính không dây nhãn hiệu Genlus màu đen; 01 con lợn nhựa màu vàng; 01 con lợn nhựa màu hồng. Ngoài ra, gia đình Phùng Văn A đã tự nguyện bồi thường cho anh V số tiền 90.000đ. Đối với ổ khóa Việt Tiệp và 2 con lợn nhựa bị phá hỏng, do giá trị nhỏ nên anh V không yêu cầu bồi thường. Anh V không có yêu cầu gì về dân sự.

Về vật chứng:

Chuyển đến Chi cục Thi hành án huyện Ba Vì bảo quản chờ xử lý theo quy định đối với các vật chứng sau:

- Số tiền: 2.816.000 đồng (Hai triệu tám trăm mười sáu nghìn đồng) thu giữ trên người Phùng Văn B; Số tiền: 7.970.000 đồng (Bảy triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng) thu giữ trên người Phùng Văn A. Số tiền: 5.100.000đ (năm triệu một trăm nghìn đồng, thu giữ tại nhà ở Phùng Văn A).

1. 01 (một) màn hình máy vi tính LG L17428SE-PF, Seri: 004VNQS1G292 (đã cũ);

2.01 (một) bàn phím máy vi tính (đã cũ);

3. 01 (một) chuột vi tính (đã cũ);

4.01 (một) tai nghe vi tính (đã cũ);

5.01 (một) túi sách màu đen 04 ngăn, chiều dài 37cm, rộng 27cm, nhãn hiệu Hoang ha;

6. 01 (một) chiếc búa đinh cầm tay, thân búa bằng kim loại có diện (12,4x3,4x3,0)cm, cán búa bằng gỗ dài 29cm, đường kính 03cm;

7.01 (một) con dao rựa màu đen dài 42cm, chuôi bằng sắt dài 10,2cm, bản rộng nhất 7,2cm;

8.01 (một) con dao màu đen dài 29,8cm, chuôi bằng gỗ dài 15,4cm, bản rộng nhất 2,8cm, bị gãy đầu mũi nhọn;

9. 01 (một) lưỡi cưa sắt dài 31cm, rộng 2cm;

10.01 (một) mỏ lết màu trắng, dài 30cm, nhãn hiệu “HAPPINES”;

11.01 (một) đục sắt dài 28cm, đường kính 02cm, có một đầu nhọn.

12. 01 (một) tô vít dài 33cm, phần chuôi nhựa màu vàng - đỏ dài 9cm, đường kính 2cm;

13.01 (một) bút thử điện dài 12,8cm, thân bút bằng nhựa màu trắng đục;

14. 01 (một) tuýp khẩu hình chữ T dài 29,2cm, đầu chữ T dài 19cm, bọc cao xu màu đỏ;

15.01 (một) tuýp khẩu hình chữ T dài 29cm, đầu chữ T dài 19cm, bọc cao xu màu đen;

16.01 (một) tuýp khẩu hình chữ T dài 30cm, đầu chữ T dài 18,4cm, bọc cao xu màu đen;

17.01 (một) tuýp khẩu hình chữ T dài 29cm, đầu chữ T dài 19cm, bọc cao xu màu đen;

18.01 (một) tròng loại 14/17 để mở ốc, dài 12cm, mạ trắng, nhãn hiệu YETY;

19.01 (một) cờ lê loại 10/10 dài 13cm;

20. 01 (một) kìm bấm, tay cầm màu đỏ dài 19,4cm, nhãn hiệu GOOD MAN;

21. 01 (một) kìm cách điện dài 16cm, tay cầm bọc nhựa màu đỏ, không nhãn mác;

22. 01 (một) kìm cách điện dài 16,4cm, tay cầm bọc nhựa màu đỏ - đen, nhãn hiệu MEINFA;

23. 01 ( một ) kìm cộng lực, dài 86cm, phần cán kìm dài 70cm, sơn màu đen, hai đầu tay cầm kìm bọc nhựa màu đen dài 10cm.

24. 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy số 0009118, mang tên Bạch Văn I;

25. 01 (một) xe máy nhãn hiệu Dream, BKS: 33L1 - 5091, SK:004800; SM: 004800 xe không chìa khoá, có 01 gương, xe đã cũ, đã qua sử dụng;

26. 01 đăng ký mô tô, xe máy số 006936 mang tên Phan Thành Đ.

27. 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, viền xám, số Imei:35601033082409, điện thoại đã cũ.

28. 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, số Imei 359307041833266, điện thoại đã cũ.

29. 01 khoá Việt Tiệp, kích thước 7x9cm, phần tai khoá bị cắt đứt.

30. 01 (một) ổ khóa màu đen, phần ngoắc khóa làm bằng sắt màu trắng, phần thân khóa có một mặt in chữ “LOCK”, một mặt in chữ “Việt tiệp”, phần ngoắc khóa bị cắt lìa không nguyên vẹn;

31. 01 (một) ổ khóa màu đen, phần ngoắc khóa làm bằng sắt màu trắng, phần thân khóa có một mặt in chữ “LOCK”, một mặt in chữ “Việt tiệp”, đáy khóa có viết chữ “H” màu trắng, phần ngoắc khóa bị cắt lìa không nguyên vẹn;

32. 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu Việt tiệp, tổng chiều dài cả móc ở chế độ mở là 6,6cm, thân trên có diện (3,4x3,8)cm;

33. 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu Việt tiệp màu đen, thân khóa có diện (4,5x3,5x1,8)cm, tổng chiều cao của khóa ở chế độ mở là 7,5cm, phần lỗ khóa bật, mở, bị phá hư hỏng;

34.01 (một) ổ khóa nhãn hiệu Việt tiệp màu đen, thân khóa có diện (6,2x4,2x2,2)cm, tổng chiều cao của khóa ở chế độ mở là 10cm, phần lỗ khóa bật, mở, bị phá hư hỏng;

35. 01Dấu vết màu nâu đỏ trên mặt bàn học trong phòng ngủ, nghi là máu được thu bằng cách dùng tăm bông sạch quyết thu lại mẫu (Mẫu M1) đựng trong phong bì mở không dán kín.

36. 01 Dấu vết màu nâu đỏ, trên mặt đế quạt cây trong phòng ngủ, nghi là máu được thu bằng cách dùng tăm bông sạch quyét thu lại đựng trong phong bì mở, không dán kín;

37. 01 (một) tấm kim loại được cắt từ phần kim loại phía sau két sắt có bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu, kích thước (17 x 11)cm ;

38. 01 (một) túi nilông đựng tài liệu bị rách bên trên có lớp màu nâu đỏ nghi máu.

Tại Cáo trạng số 10 /CT-VKS ngày 05/02/ 2018, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đề nghị truy tố các bị cáo Phùng Văn A và Phùng Văn B phạm tội ”Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 138 BLHS 1999 ( điểm c khoản 2 điều 173 BLHS 2015)

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì giữ nguyên quan điểm tại bản cáo trạng, đề nghị:

Xử phạt bị cáo Phùng Văn A từ 36 tháng đến 42 tháng tù; bị cáo Phùng Văn B từ 24 đến 30 tháng tù.

Về tang vật: Tiếp tục bảo thủ số tiền 7.970.000 đồng và số tiền: 5.100.000đ của Phùng Văn A) để đảm bảo thi hành án. Tuyên trả số tiền 2.816.000 đồng cho bị cáo Phùng Văn B.

Tuyên trả cho bị cáo Phùng Văn A và vợ chị Nguyễn Thị E 01(một) xe máy nhãn hiệu Dream, BKS: 33L1 - 5091, SK:004800; SM: 004800 xe không chìa khoá, có 01 gương, xe đã cũ, đã qua sử dụng và 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy số 0009118, mang tên Bạch Văn I.

Tịch thu phát mại xung công quỹ nhà nước 01 (một) màn hình máy vi tính LG L17428SE-PF, Seri: 004VNQS1G292 (đã cũ); 01 (một) bàn phím máy vi tính (đã cũ); 01 (một) chuột vi tính (đã cũ); 01 (một) tai nghe vi tính (đã cũ); và 02 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia 1280

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phùng Văn A phải bồi thường cho chị Phùng Thị G số tiền 12.945.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình tiến hành tố tụng, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT – Công an huyện Ba Vì và Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đều được thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Từ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày của các bị cáo tại phiên Tòa hôm nay có đủ có sở để xác định:

Trong thời gian từ đầu tháng 9/2017 cho đến 21/09/2017, lợi dụng sơ hở của các gia đình trên địa bàn các xã Q, Q1, Y2 thuộc huyện Ba Vì và huyện Quốc Oai – TP Hà Nội, Phùng Văn A và Phùng Văn B đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của các gia đình. Tổng giá trị tài sản A và B đã chiếm đoạt là 100.798.500đ (Một trăm ,triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn, năm trăm đồng). Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS 1999(điểm c khoản 2 điều 173 BLHS 2015). Do đó việc Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì truy tố các bị cáo ra Tòa án nhân dân huyện Ba Vì với tội danh trên là có căn cứ.

Xét thấy, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nhiều lần xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, số tài sản bị xâm phạm nhiều, có giá trị lớn, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang, bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Do vậy, HĐXX phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn với các bị cáo để nhằm răn đe giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Đối với bị cáo Phùng Văn A đứng vai trò đầu trong vụ án, là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo A là người rủ rê bị cáo B, số tiền trộm được bị cáo A chiến đoạt nhiều nhất. Do vậy, bị cáo A phải chịu mức án cao nhất trong vụ án.

Đối với bị cáo Phùng Văn B tham gia với vai trò đồng phạm, bị cáo đứng ngoài cảnh giới cho bị cáo A trộm cắp, bị cáo được hưởng số tiền ít hơn bị cáo A. Do vậy, bị cáo B phải chịu mức án thấp nhất trong vụ án.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo tự nguyện bồi thường cho các bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo, Mẹ đẻ bị cáo B được Bộ giáo dục tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục. Do đó HĐXX áp dụng điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 và điểm b,s,x khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng: không có

Về dân sự:

Gia đình chị Dương Thị D, anh Nguyễn Mạnh L chị Phùng Thị R, ông Phùng Viết T, anh Bùi Văn K, chị Phạm Thị M anh Bùi Văn V không có yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Chị Phùng Thị G yêu cầu Phùng Văn A phải tiếp tục bồi thường số tiền 12.945.000đ. Xét thấy, tổng giá trị tài sản các bị cáo lấy tại nhà chị G là 33.986.500đ (Ba mươi ba triệu chín trăm tám mươi sáu nghìn năm trăm đồng), gia đình A đã tự nguyện bồi thường cho chị G số tiền: 6.110.000đ, gia đình B tự nguyện bồi thường số tiền: 13.525.000đ. Tổng số tiền các bị cáo đã bồi thường là 19.762.000 đồng. Như vậy số tiền còn phải bồi thường tiếp cho chị G là 12.945.000đ . Như vậy tại phiên toà hôm nay chị G yêu cầu bị cáo A phải bồi thường tiếp số tiền 12.945.000đ là có cơ sở, bị cáo A chấp nhận bồi thường tiếp số tiền cho chị G. Do vậy, HĐXX ghi nhận sự tự nguyện trên.

Về vật chứng:

- Số tiền: 2.816.000 đồng (Hai triệu tám trăm mười sáu nghìn đồng) thu giữ trên người Phùng Văn B. Xét thấy, đây là số tiền của bị cáo nên cần tuyên trả cho bị cáo.

- Số tiền: 7.970.000 đồng (Bảy triệu, chín trăm bảy mươi nghìn đồng) thu giữ trên người Phùng Văn A; và 5.100.000đ (năm triệu, một trăm nghìn đồng) thu giữ tại nhà ở Phùng Văn A. Xét thấy, đây là số tiền của bị cáo nên cần tiếp tục bảo thủ để đảm bảo thi hành án.

-01 (một) màn hình máy vi tính LG L17428SE-PF, Seri: 004VNQS1G292 (đã cũ); 01 (một) bàn phím máy vi tính (đã cũ);01 (một) chuột vi tính (đã cũ); và 01 (một) tai nghe vi tính (đã cũ). Xét thấy tài sản này thu được trong nhà bị cáo A, tại phiên toà bị cáo cho rằng tài sản này do bị cáo lấy tiền ăn trộm để mua, bị cáo đồng ý phát mại xung công quỹ nhà nước. Còn 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, viền xám, số Imei:35601033082409, điện thoại đã cũ và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, số Imei 359307041833266, điện thoại đã cũ. Đây là phương tiện các bị cáo liên lạc rủ nhau phạm tội. Do vậy, HĐXX cần phát mại xung công quỹ nhà nước

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Dream, BKS: 33L1 - 5091, SK:004800; SM: 004800 xe không chìa khoá, có 01 gương, xe đã cũ, đã qua sử dụng; và 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy số 0009118, mang tên Bạch Văn I. Xét thấy, đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo Phùng Văn A. Do vậy HĐXX cần tuyên trả chiếc xe cho vợ chồng bị cáo.

-01 (một) túi sách màu đen 04 ngăn, chiều dài 37cm, rộng 27cm, nhãn hiệu Hoang ha; 01 (một) chiếc búa đinh cầm tay, thân búa bằng kim loại có diện (12,4x3,4x3,0)cm, cán búa bằng gỗ dài 29cm, đường kính 03cm; 01 (một) con dao rựa màu đen dài 42cm, chuôi bằng sắt dài 10,2cm, bản rộng nhất 7,2cm; 01 (một) con dao màu đen dài 29,8cm, chuôi bằng gỗ dài 15,4cm, bản rộng nhất 2,8cm, bị gãy đầu mũi nhọn; 01 (một) lưỡi cưa sắt dài 31cm, rộng 2cm; 01 (một) mỏ lết màu trắng, dài 30cm, nhãn hiệu “HAPPINES”; 01 (một) đục sắt dài 28cm, đường kính 02cm, có một đầu nhọn; 01 (một) tô vít dài 33cm, phần chuôi nhựa màu vàng - đỏ dài 9cm, đường kính 2cm; 01 (một) bút thử điện dài 12,8cm, thân bút bằng nhựa màu trắng đục;01 (một) tuýp khẩu hình chữ T dài 29,2cm, đầu chữ T dài 19cm, bọc cao xu màu đỏ; 01 (một) tuýp khẩu hình chữ T dài 29cm, đầu chữ T dài 19cm, bọc cao xu màu đen; 01 (một) tuýp khẩu hình chữ T dài 30cm, đầu chữ T dài 18,4cm, bọc cao xu màu đen; 01 (một) tuýp khẩu hình chữ T dài 29cm, đầu chữ T dài 19cm, bọc cao xu màu đen; 01 (một) tròng loại 14/17 để mở ốc, dài 12cm, mạ trắng, nhãn hiệu YETY; 19.01 (một) cờ lê loại 10/10 dài 13cm; 01 (một) kìm bấm, tay cầm màu đỏ dài 19,4cm, nhãn hiệu GOOD MAN; 01 (một) kìm cách điện dài 16cm, tay cầm bọc nhựa màu đỏ, không nhãn mác; 01 (một) kìm cách điện dài 16,4cm, tay cầm bọc nhựa màu đỏ - đen, nhãn hiệu MEINFA; 01 ( một ) kìm cộng lực, dài 86cm, phần cán kìm dài 70cm, sơn màu đen, hai đầu tay cầm kìm bọc nhựa màu đen dài 10cm. 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy số 0009118, mang tên Bạch Văn I; 01 khoá Việt Tiệp, kích thước 7x9cm, phần tai khoá bị cắt đứt; 01 (một) ổ khóa màu đen, phần ngoắc khóa làm bằng sắt màu trắng, phần thân khóa có một mặt in chữ “LOCK”, một mặt in chữ “Việt tiệp”, phần ngoắc khóa bị cắt lìa không nguyên vẹn; 01 (một) ổ khóa màu đen, phần ngoắc khóa làm bằng sắt màu trắng, phần thân khóa có một mặt in chữ “LOCK”, một mặt in chữ “Việt tiệp”, đáy khóa có viết chữ “H” màu trắng, phần ngoắc khóa bị cắt lìa không nguyên vẹn; 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu Việt tiệp, tổng chiều dài cả móc ở chế độ mở là 6,6cm, thân trên có diện (3,4x3,8)cm; 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu Việt tiệp màu đen, thân khóa có diện (4,5x3,5x1,8)cm, tổng chiều cao của khóa ở chế độ mở là 7,5cm, phần lỗ khóa bật, mở, bị phá hư hỏng; 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu Việt tiệp màu đen, thân khóa có diện (6,2x4,2x2,2)cm, tổng chiều cao của khóa ở chế độ mở là 10cm, phần lỗ khóa bật, mở, bị phá hư hỏng; 01Dấu vết màu nâu đỏ trên mặt bàn học trong phòng ngủ, nghi là máu được thu bằng cách dùng tăm bông sạch quyét thu lại mẫu (Mẫu M1) đựng trong phong bì mở không dán kín ; 01 Dấu vết màu nâu đỏ, trên mặt đế quạt cây trong phòng ngủ, nghi là máu được thu bằng cách dùng tăm bông sạch quyét thu lại đựng trong phong bì mở, không dán kín;01 (một) tấm kim loại được cắt từ phần kim loại phía sau két sắt có bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu, kích thước (17 x 11)cm ; 01 (một) túi nilông đựng tài liệu bị rách bên trên có lớp màu nâu đỏ nghi máu. Xét thấy đây là tang vật vụ án cần tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Phùng Văn A, Phùng Văn B phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 điều 173, điểm b,s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38, điều 47 BLHS năm 2015; điều 106, điều 138 BLTTHS năm 2015. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 .

Xử phạt bị cáo: Phùng Văn A 40 (Bốn mƣơi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 21/9/2017.

Áp dụng điểm c khoản 2 điều 173, điểm b,s,x khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 17, điều 38, điều 47 BLHS năm 2015; điều 106, điều 138 BLTTHS năm 2015. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 .

Xử phạt bị cáo Phùng Văn B 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 21/9/2017.

2. Dân sự: Buộc bị cáo Phùng Văn A phải bồi thường cho gia đình chị Phùng Thị G số tiền 12.945.000đ ( Mười hai triệu, chín trăm bốn mươi lăm ngàn đồng )

3. Vật chứng:

- Tuyên trả cho bị cáo Phùng Văn B số tiền: 2.816.000 đồng (Hai triệu tám trăm mười sáu nghìn đồng) .

- Tiếp tục bảo thủ để đảm bảo thi hành án số tiền: 13.070.000đ ( Mười ba triệu, không trăm bảy mươi ngàn đồng ) của bị cáo Phùng Văn A.

( Theo giấy nộp tiền ngày 02 tháng 3 năm 2018 vào tài khoản số 394901052741 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba vì, Hà Nội )

- Tuyên trả cho bị cáo Phùng Văn A và vợ là chị Nguyễn Thị E 01(một) xe máy nhãn hiệu Dream, BKS: 33L1 - 5091, SK:004800; SM: 004800 xe không chìa khoá, có 01 gương, xe đã cũ, đã qua sử dụng; và 01(một) đăng ký mô tô, xe máy số 0009118, mang tên Bạch Văn I.

-Tịch thu phát mại xung công quỹ nhà nước :01 (một) màn hình máy vi tính LG L17428SE-PF, Seri: 004VNQS1G292 (đã cũ); 01 (một) bàn phím máy vi tính (đã cũ);01 (một) chuột vi tính (đã cũ); và 01 (một) tai nghe vi tính (đã cũ); 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, viền xám, số Imei:35601033082409 điện thoại đã cũ và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, số Imei 359307041833266, điện thoại đã cũ.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) túi sách màu đen 04 ngăn, chiều dài 37cm, rộng 27cm, nhãn hiệu Hoang ha; 01 (một) chiếc búa đinh cầm tay, thân búa bằng kim loại có diện (12,4x3,4x3,0)cm, cán búa bằng gỗ dài 29cm, đường kính 03cm; 01 (một) con dao rựa màu đen dài 42cm, chuôi bằng sắt dài 10,2cm, bản rộng nhất 7,2cm; 01 (một) con dao màu đen dài 29,8cm, chuôi bằng gỗ dài 15,4cm, bản rộng nhất 2,8cm, bị gãy đầu mũi nhọn; 01 (một) lưỡi cưa sắt dài 31cm, rộng 2cm; 01 (một) mỏ lết màu trắng, dài 30cm, nhãn hiệu “HAPPINES”; 01 (một) đục sắt dài 28cm, đường kính 02cm, có một đầu nhọn; 01 (một) tô vít dài 33cm, phần chuôi nhựa màu vàng - đỏ dài 9cm, đường kính 2cm; 01 (một) bút thử điện dài 12,8cm, thân bút bằng nhựa màu trắng đục;01 (một) tuýp khẩu hình chữ T dài 29,2cm, đầu chữ T dài 19cm, bọc cao xu màu đỏ; 01 (một) tuýp khẩu hình chữ T dài 29cm, đầu chữ T dài 19cm, bọc cao xu màu đen; 01 (một) tuýp khẩu hình chữ T dài 30cm, đầu chữ T dài 18,4cm, bọc cao xu màu đen; 01 (một) tuýp khẩu hình chữ T dài 29cm, đầu chữ T dài 19cm, bọc cao xu màu đen; 01 (một) tròng loại 14/17 để mở ốc, dài 12cm, mạ trắng, nhãn hiệu YETY; 19.01 (một) cờ lê loại 10/10 dài 13cm; 01 (một) kìm bấm, tay cầm màu đỏ dài 19,4cm, nhãn hiệu GOOD MAN; 01 (một) kìm cách điện dài 16cm, tay cầm bọc nhựa màu đỏ, không nhãn mác; 01 (một) kìm cách điện dài 16,4cm, tay cầm bọc nhựa màu đỏ - đen, nhãn hiệu MEINFA; 01 ( một ) kìm cộng lực, dài 86cm, phần cán kìm dài 70cm, sơn màu đen, hai đầu tay cầm kìm bọc nhựa màu đen dài 10cm. 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy số 0009118, mang tên Bạch Văn I; 01 khoá Việt Tiệp, kích thước 7x9cm, phần tai khoá bị cắt đứt; 01 (một) ổ khóa màu đen, phần ngoắc khóa làm bằng sắt màu trắng, phần thân khóa có một mặt in chữ “LOCK”, một mặt in chữ “Việt tiệp”, phần ngoắc khóa bị cắt lìa không nguyên vẹn; 01 (một) ổ khóa màu đen, phần ngoắc khóa làm bằng sắt màu trắng, phần thân khóa có một mặt in chữ “LOCK”, một mặt in chữ “Việt tiệp”, đáy khóa có viết chữ “H” màu trắng, phần ngoắc khóa bị cắt lìa không nguyên vẹn; 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu Việt tiệp, tổng chiều dài cả móc ở chế độ mở là 6,6cm, thân trên có diện (3,4x3,8)cm; 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu Việt tiệp màu đen, thân khóa có diện (4,5x3,5x1,8)cm, tổng chiều cao của khóa ở chế độ mở là 7,5cm, phần lỗ khóa bật, mở, bị phá hư hỏng; 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu Việt tiệp màu đen, thân khóa có diện (6,2x4,2x2,2)cm, tổng chiều cao của khóa ở chế độ mở là 10cm, phần lỗ khóa bật, mở, bị phá hư hỏng; 01Dấu vết màu nâu đỏ trên mặt bàn học trong phòng ngủ, nghi là máu được thu bằng cách dùng tăm bông sạch quyét thu lại mẫu (Mẫu M1) đựng trong phong bì mở không dán kín ; 01 Dấu vết màu nâu đỏ, trên mặt đế quạt cây trong phòng ngủ, nghi là máu được thu bằng cách dùng tăm bông sạch quyét thu lại đựng trong phong bì mở, không dán kín;01 (một) tấm kim loại được cắt từ phần kim loại phía sau két sắt có bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu, kích thước (17 x 11)cm ; 01 (một) túi nilông đựng tài liệu bị rách bên trên có lớp màu nâu đỏ nghi máu.

4.Án phí: Các bị cáo Phùng Văn B, Phùng Văn A mỗi người phải chịu 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Phùng Văn A phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại ( có mặt tại phiên toà ) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại ( vắng mặt tại phiên toà ) đươc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ