vanban.org

Bản án 12/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Kiến Tường, tỉnh Long An Tuyên án 10/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Nguyễn Thị R cho Ủy ban nhân dân xã Bình Hiệp, thị xã K, tỉnh Long An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp Nguyễn Thị R thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Riếp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Nguyễn Thị R cho Ủy ban nhân dân xã Bình Hiệp, thị xã K, tỉnh Long An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 12/2018/HS-ST
Ngày 10 - 7 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trình Văn Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Văn Thị Mỹ Yên.

Bà Lâm Thị Kim Xuyến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Công - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã K, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kho - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị R, sinh năm: 1982 tại V, Long An; Nơi cư trú: Nơi đăng ký thường trú: Ấp Ô, xã B, thị xã K, tỉnh Long An; Nơi thường trú: Ấp Ô, xã B, thị xã K, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn X và bà Lê Thị T; Chồng tên Phạm Văn P; Con tên Phạm Quốc T và Phạm Thị A; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại điều tra đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn K - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp ly nhà nước tỉnh Long An (có mặt).

- Người bị hại: Bà Lê Thị H, sinh năm: 1966; Địa chỉ: Ấp Ô, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1970; Địa chỉ: Ấp Ô, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (vắng mặt).

- Người làm chứng:

Bà Trần Thị Đ, sinh năm: 1969; Địa chỉ: Ấp Ô, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (vắng mặt).

Ông Đặng Văn H, sinh năm: 2002; Địa chỉ: Ấp Ô, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Tại bản cáo trang số 14/CT-VKSKT ngày 31 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã K, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Thị R về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vào khoảng 6 giờ 00 phút ngày 02/3/2018 Nguyễn Thị R, sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú: Ấp Ô, xã B, thị xã K trong lúc điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 62H4 - 5232 chở con là Phạm Thị A, sinh năm 2009 đi học ở trường tiểu học B đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nhà chị Lê Thị H tại ấp Ô, xã B, thị xã K (do ở cùng xóm nên R biết chị H cất tiền ở đâu). Đến khoảng 07 giờ R chạy xe lại nhà chị H thấy khóa cửa, không có ai ở nhà nên R liền vòng ra cửa sau dùng đá mài dao có sẵn tại chỗ sàn nước cạy lỗ chốt khóa cửa sau, làm bể vách tường, sau đó R vào trong nhà. Lúc này, R thấy trên bàn máy may có một túi xanh trong có nhiều tiền nên R đem túi này ra sau sàn nước, lấy tiền bỏ vào túi quần phải, vứt túi đựng tiền lại và chạy xe về nhà. Khi về đến nhà mình, R rút ra một xấp tiền bỏ chung với tiền của mình trong túi quần, phần còn lại R để trong túi quần chồng mình là ông Phạm Văn Ph đang treo trên sào đồ nhà sau. Khoảng 07 giờ 30 phút chị H về nhà phát hiện cửa sau bất thường, đồ đạc trong nhà bị xáo trộm và mất một túi xách trong có 24.536.000 đồng, 01 (một) tờ giấy bạc mệnh giá 02 (hai) USD (đô la) Mỹ và 01 (một) điện thoại OPPO đã qua sử dụng và nghi vấn Nguyễn Thị R trộm tài sản của mình nên trình báo Công an. Công an xã B, thị xã K mời R lên làm việc và R đã thừa nhận thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và giao nộp tang vật gồm 24.536.000 đồng, 01 (một) tờ giấy bạc mệnh giá 02 (hai) USD (đô la) Mỹ và 01 quần kaki của chồng mình (ông P) mà R bỏ tiền trộm được vào. Riêng 01 (một) điện thoại OPPO đã qua sử dụng Nguyễn Thị R không thừa nhận lấy trộm, cũng không thu hồi được nên không có căn cứ xác định R đã trộm điện thoại trên.

Tang vật thu giữ: 01 (một) đá mài dao kích thước chỗ dài nhất là 20 cm, chỗ rộng nhất là 05 (năm) cm; 01 (một) quần kaki màu xám.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 20/KL-HĐ-ĐGTS ngày 11/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã K, xác định 02 (hai) USD (đô la) Mỹ có giá trị là 45.484 đồng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị R phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị R từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Bình Hiệp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:

Chiếc xe xe môtô biển kiểm soát: 62H4 - 5232 ngày 10/5/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã K đã trao trả lại cho bà Phạm Thị L xong nên không xem xét.

Số tiền 24.536.000 đồng (hai mươi bốn triệu năm trăm ba mươi sáu ngàn đồng) và 01 (một) tờ 02 (hai) USD (đô la) Mỹ ngày 22/3/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã K đã trao trả lại cho bà Lê Thị H xong nên không xem xét.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đá mài dao kích thước chỗ dài nhất là 20 cm, chỗ rộng nhất là 05 (năm) cm; 01 (một) quần kaki màu xám vì không có giá trị sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bà Lê Thị H đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 thì hành vi của bị cáo R có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Nhưng xét thấy bị cáo R không nghề nghiệp nên đề nghị miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Về lời trình bày của người bị hại đối với hành vi của bị cáo yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật; Về tài sản đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm nên không xem xét; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị R khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo để xét xử về tội trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội không oan. Lời khai nhận tội của bị cáo R tại phiên tòa hôm nay, được đối chiếu với biên bản thu hồi vật chứng, biên bản định giá tài sản, lời khai của người bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp.

Bị cáo Nguyễn Thị R biết rõ tài sản thuộc sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ khi có hành vi trái pháp luật xâm phạm, nhưng bị cáo lợi dụng sự mất cảnh giác của bà bà H đã rắp tâm thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt trót lọt tiền của bà H nhằm thỏa mãn mục đích cá nhân.

Giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 24.581.484 đồng.

Như vậy, đã có đầy đủ căn cứ pháp lý để kết luận rằng hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị R đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã K, tỉnh Long An truy tố bị cáo R ra Tòa để xét xử theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo R là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bà H, mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây xôn xao dư luận trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo R bị pháp luật nghiêm cấm. Do đó, cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự mới giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội sau này, đồng thời răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, mà có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Mặc khác bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, gia đình là hộ nghèo của xã, có chồng bị bệnh ung thư gan, là lao động chính của gia đình, nuôi con nhỏ và xét thấy nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó bị cáo Nguyễn Thị R có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Vì vậy không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo với thời gian dài thử thách, giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Về vật chứng:

Chiếc xe xe môtô biển kiểm soát: 62H4 - 5232 ngày 10/5/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã K đã trao trả lại cho bà Phạm Thị L xong; Số tiền 24.536.000 đồng (hai mươi bốn triệu năm trăm ba mươi sáu ngàn đồng) và 01 (một) tờ 02 (hai) USD (đô la) Mỹ ngày 22/3/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã K đã trao trả lại cho bà Lê Thị H xong. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K là có căn cứ đúng quy định của pháp luật nên không xem xét.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đá mài dao kích thước chỗ dài nhất là 20 cm, chỗ rộng nhất là 05 (năm) cm; 01 (một) quần kaki màu xám gì không có giá trị sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bà Lê Thị H đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 thì hành vi của bị cáo R có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Nhưng xét thấy bị cáo R không nghề nghiệp nên đề nghị miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Từ những nhận xét nêu trên cũng như qua tranh luận tại phiên tòa. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng quy định. Vì vậy, đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ đúng pháp luật nên chấp nhận.

Theo quy định buộc bị cáo Nguyễn Thị R phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị R 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10 tháng 7 năm 2018).

Giao bị cáo Nguyễn Thị R cho Ủy ban nhân dân xã Bình Hiệp, thị xã K, tỉnh Long An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp Nguyễn Thị R thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đá mài dao kích thước chỗ dài nhất là 20 cm, chỗ rộng nhất là 05 (năm) cm; 01 (một) quần kaki màu xám gì không có giá trị sử dụng (các vật chứng này Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã K đang quản lý).

Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016. Buộc bị cáo Nguyễn Thị R phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người bị hại báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ