vanban.org

Bản án 12/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 17/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bốcác bị cáo Nguyễn Văn C,Huỳnh Văn M phạm tội “Cƣớp giật tài sản”;

1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 03(ba)năm tù,thời hạn tù tính từ ngày 25-7-2017. 2. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, 2 Điều 51Bộ luật hình sựnăm 2015;… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C và Huỳnh Văn M phạm tội " trộm cắp tài sản" - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bốcác bị cáo Nguyễn Văn C,Huỳnh Văn M phạm tội “Cƣớp giật tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sựnăm; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA
Bản án số:12/2018/HS-ST
Ngày17-01-2018

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đàm Thị Bích Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

BàĐào Thị Mỹ Phƣơng

BàNguyễn Thị Tỉnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Thư ký Tòaán nhân dân thành phố Nha Trang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa:BàChâu Thị Kim Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 417/2017/HSST ngày 19 tháng 12 năm 2017 đối với các bị cáo:

1.NGUYỄN VĂN C;sinh năm 1996, tại Nha Trang, Khánh Hòa; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Ô 4, L 41, Đ, phường V, Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: sửa xe; Trình độ văn hóa: 9/12. Con ông: Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Y; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 25/7/2017 cho đến nay; có mặt.

2. HUỲNH VĂN M; sinh ngày 28/3/1998; nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: Ô 8, L8 Khu tái định cư Đ, xã V, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B vàbàNgô Thị X;tiền án: không; tiền sự:không; nhân thân:

- Quyết định số 5626 ngày 14/6/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang, về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh để cai nghiện ma túy; chấp hành xong ngày 11/4/2015. Đã được xóa án tích.

- Bản án số 134/2016/HSPT ngày 11/08/2016 của TAND tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/02/2017. Đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 25/7/2017 cho đến nay; có mặt.

*Bị hại:Chị Nguyễn Thị T; sinh năm 1994; HKTT: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; Địa chỉ liên lạc: P501 khách sạn Ponys, 63 H, T, Tp. Nha Trang, Khánh Hòa; vắng mặt.

* Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Chị Văn Thị Úc Trinh; sinh năm 1986; Địa chỉ: T 9, P1, Thị TrấnD, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Y; sinh năm 1974; Địa chỉ: Ô 4 L 41 Đ, xã V, Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.

3. Ông Nguyễn Văn T; sinh năm 1975; Địa chỉ; Ô4 L 41 Đ, xã V, Tp. Nha Trang; có mặt.

* Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:

1. Anh Ngô Duy T; Địa chỉ: 40A L, T, Nha Trang, Khánh Hòa; vắng mặt.

2. Anh Lê Nguyễn Tấn L; Địa chỉ: 05 L, L, Nha Trang, Khánh Hòa; vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Thanh T; Địa chỉ: 144 P, Nha Trang, Khánh Hòa; vắng mặt.

4. Anh Nguyễn Văn L; Địa chỉ: 63 P, P, Nha Trang, Khánh Hòa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h30 ngày 24/7/2017 Nguyễn Văn C điều khiển xe máy BKS: 79D1-256.31, chở Huỳnh Văn M đi lòng vòng tìm cơ hội cướp giật tài sản. Khi đến trước nhà 75 H, T, Nha Trang, C và M quan sát thấy chị Nguyễn Thị T đang đi bộ hướng về đường N, trên tay chị T có cầm 01 túi Nilon màu trắng, bên trong có 01 cây son hiệu Tomford, 01 kính đeo mắt màu đen hiệu Emporio Armani, nên nảy sinh ý định cướp giật tài sản của chị T. Lúc này, C điều khiển xe áp sát để M ngồi sau dùng tay giật túi nylon màu trắng của chị T đang cầm trên tay rồi tăng ga bỏ chạy.Chị T tri hô thì có anh Ngô Duy T đang điều khiển xe máy chở anh Lê Nguyễn Tấn L đi ngang phát hiện đuổi theo bắt giữ được C và M cùng tang vật và đưa đến Công an phường Tân Lập lập biên bản phạm tội quả tang. Tại cơ quan công an, C và M đã khai nhận hành vi thực hiện như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 290/TCKH, ngày 18/9/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 cây son hiệu Tomford giá 750.000đồng; 01 kính đeo mắt màu đen hiệu Emporio Armani giá 500.000đồng; 01 túi nilông không đủ thông tin, tổng cộng: 1.250.000đồng (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).

Bản cáo trạng số 252/CT-VKS ngày 25/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C và Huỳnh Văn M về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d (dùng thủ đoạn nguy hiểm) khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999.

* Vật chứng vụ án:

-01 cây son hiệu Tomford, 01 kính đeo mắt màu đen hiệu Emporio Armani(đã trả lại cho người bị hại Nguyễn Thị T).

- 01 xe máy hiệu Sirius, BKS 79D1-256.31

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn C và Huỳnh Văn M về tội “Cướp giật tài sản”; đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đối với 2 bị cáo, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C mức án từ 03 năm – 03 năm 06 tháng tù; bị cáo Huỳnh Văn M mức án từ 03 năm 06 tháng – 04 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa, nhưng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện người bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết tài sản nên không xem xét.

- Về việc xử lý vật chứng:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang đã trả lại cho người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn C, Huỳnh Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản gồm 01 cây son hiệu Tomford, 01 kính đeo mắt màu đen hiệu Emporio Armani của người bị hại Nguyễn Thị T, vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 24/7/2017, tại khu vực trước nhà 75 H, T, Nha Trang, Khánh Hòa. Các bị cáo không tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị Y, ông Nguyễn Văn T đã được nhận lại tài sản và không có yêu cầu giải quyết phần tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Quá trình tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nha Trang và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang thực hiện đúng trình tự, thủ tục và đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

. Tại phiên tòa vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn Thị Úc T (có đơn xin xét xử vắng mặt) và người làm chứng. Xét thấy việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

. Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Văn C và Huỳnh Văn M tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án vàđúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hành vi sử dụng xe máy để làm phương tiện để cướp giật tài sản của người bị hại là hành vi nguy hiểm, thuộc tình tiết định khung tăng nặng “dùng thủ đoạn nguy hiểm”nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C và Huỳnh Văn M về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ.

Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo C đã điều khiển xe máy áp sát để bị cáo M bất ngờ giật tài sản của người bị hại rồi C tăng ga bỏ chạy. Hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáoHuỳnh Văn M là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản, bị cáo có nhân thân xấu, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo vừa chấp hành xong hình phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của bản án số 134/HSPT ngày 11/8/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Theo quy định tại khoản 3 Điều 7, điểm b khoản 1 Điều 107 của Bộ luật hình sự năm 2015 bị cáo Huỳnh Văn M được coi là không có án tích (vì khi phạm tội trộm cắp bị cáo đang ở độ tuổi vị thành niên 17 tuổi 01 tháng 14 ngày). Bị cáo đã thực hiện nhiều hành vi trộm cắp và cướp giật tài sản và đã bị Cơ quan điều tra khởi tố bị can, hành vi thực hiện của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật nên mức hình phạt của bị cáo cần phải xử phạt cao hơn bị cáo C mới phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Văn C là người điều khiển xe máy để tạo điều kiện cho bị cáo M thực hiện, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên cần xử phạt bị cáo mức án khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015cho các bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại chị Nguyễn Thị T vắng mặt nhưng có lời khai đã nhận lại toàn bộ tài sản, không yêu cầu về trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, chị Văn Thị Úc T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, chị T xác định không yêu cầu giải quyết về phần tài sản nên không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bà Nguyễn Thị Y và ông Nguyễn Văn T có mặt tại phiên tòa, không yêu cầu giải quyết về phần tài sảnnên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra Công an thành phố Nha Trang đã trả lại tài sản cho người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn C và Huỳnh Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bốcác bị cáo Nguyễn Văn C,Huỳnh Văn M phạm tội “Cƣớp giật tài sản”;

1.1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 03(ba)năm tù,thời hạn tù tính từ ngày 25-7-2017.

1.2. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, 2 Điều 51Bộ luật hình sựnăm 2015; xử phạt bị cáo Huỳnh Văn M 03(ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25-7-2017.

2. Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Nguyễn Văn C và Huỳnh Văn M.

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn C, Huỳnh Văn M mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3.Các bị cáovà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặttại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ