- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Duy H - CYGTT - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 104 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH TH A TH N H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2018/HS-PT Ngày: 30/01/ 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘ CHỦ NGH A V ỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH TH A TH N H
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ng Tôn Anh D ng
Các Thẩm phán: ng Nguyễn Thanh Lộc;
ng Nguyễn Văn Trung.
Thư ký phiên tòa: ng Hồ Vinh hú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: ng Lê Đức Khanh, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, số 11 Tôn Đức Th ng, thành phố Huế, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 167/2017/HSPT ngày 25 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo Lê DH do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 248/2017/HSST ngày 13/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê DH (tên gọi khác: B), sinh ngày 20 tháng 10 năm 1985, giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: 6/… Bà T, phường H, thành phố H, tỉnh TTH; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: chạy xe thồ; Con ông: Lê Duy N (chết), con bà: Hồ Thị K; Vợ: Nguyễn Thị U, có 2 con, lớn 10 tuổi, nhỏ 8 tuổi; Tiền án: không, tiền sự: 01 - Ngày 04/01/2017 bị Công an thành phố H xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác theo Quyết định số 045790/X HC.
Quá trình nhân thân:
- Ngày 5/11/2003 bị Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường.
- Ngày 29/2/2004, bị Công an phường H, thành phố H xử phạt hành chính 50.000 đồng về hành vi gây mất an ninh trật tự.
Từ ngày 06/5/2004 đến ngày 06/5/2005 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cơ sở giáo dục tại Hoàn Cát, Quảng Trị.
Bị cáo bị b t tạm giữ ngày 18/6/2017, tạm giam từ ngày 21/6/2017 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê DH: ng hạm Đình Hiệu - Luật sư, cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh TTH (có mặt).
NỘ D NG V N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 2 giờ 30 phút, ngày 18/6/2017, Lê DH (tên gọi khác: B) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75K3-2116 đến quầy số 9, bến xe phía Nam, phường AĐ, thành phố H để uống cà phê. Sau đó, anh Nguyễn H c ng đến quầy số 9 để uống cà phê. Do có mâu thuẫn từ trước, nên sau khi gặp nhau giữa hai bên có lời qua tiếng lại, DH xông vào đánh rồi ôm vật với anh H. Trong quá trình vật lộn, đánh nhau, DH rút trong túi quần của mình ra một con dao bấm bằng kim loại có kích thước 17cm (cán dài 10cm, lưỡi rộng 3cm) đâm nhiều nhát vào bụng, ngực, đùi phải anh H. Thấy vậy, anh Nguyễn T là anh ruột của H vào can ngăn, thu giữ con dao bấm của DH và bảo DH và H ra về. DH cho rằng H sẽ đi gọi người đánh lại mình, nên khi về nhà thì DH tiếp tục lấy 2 con dao quy lại bến xe phía Nam để đánh nhau. Trên đường đi thì DH bị lực lượng công an phát hiện b t giữ.
Hậu quả: anh Nguyễn H bị thương nặng phải nằm điều trị tại bệnh viện Trung ương Huế đến ngày 30/6/2017 thì xuất viện.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 166-17/TgT ngày 19/6/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh TTH, kết luận thương tích của anh Nguyễn H như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
-Chấn thương thủng gan đã được phẩu thuật khâu gan: 31%.
-Chấn thương thủng đại tràng Sigma đã xử lý làm hậu môn nhân tạo: 41%.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 59%.
3. Vật gây: Vật s c nhọn.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 215-17/TgT ngày 8/8/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh TTH về việc giám định bổ sung, kết luận thương tích của anh Nguyễn H như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
-Vết sẹo phần mềm vùng ngực, đùi không ảnh hưởng chức năng.
-Tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại do thương tích gây nên là: 3%.
2. Tổng hợp tỷ lệ tổn thương cơ thể chung do thương tích gây nên hiện tại là 60%.
Tại Bản án số 248/2017/HSST ngày: 13/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê DH phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 3 Điều 104 điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê DH 04 năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 18/6/2017.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí phải chịu và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 21 tháng 11 năm 2017, bị cáo Lê DH có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê DH vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã phân tích, kết luận toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Từ đó cho rằng, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp, nên đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: nguyên nhân xảy ra tội phạm do người bị hại có quan hệ tình cảm với vợ bị cáo, nên người bị hại c ng có một phần lỗi. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại, ăn năn hối cải, thật thà khai báo, trình độ văn hóa bị cáo thấp; 02 con bị cáo còn nhỏ; mẹ tuổi cao sức yếu, gia đình thuộc diện hộ ngh o, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 41 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Lê DH nhất trí lời bào chữa của luật sư, không bổ sung gì thêm. Lời nói sau cùng bị cáo nói rất hối hận về việc đã làm với bị hại, bị cáo xin hứa sẽ không vi phạm pháp luật trở lại, phấn đấu trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘ ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.
[2] Về nội dung vụ án và áp dụng điều luật: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê DH tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận thương tích của bị hại anh Nguyễn H là do bị cáo gây ra. Bản án sơ thẩm số 248/2017/HSST ngày 13/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế kết án bị cáo 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 và đã xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đã bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, ngoài ra, người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nguyên nhân bị cáo gây thương tích cho người bị hại là do người bị hại có quan hệ tình cảm với vợ bị cáo, các trường hợp này được quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và tại phần Xét thấy c ng đã áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét theo hướng có lợi cho bị cáo. Tuy nhiên, tại phần quyết định chưa thể thiện là có thiếu sót. Cấp phúc thẩm bổ sung về phần áp dụng pháp luật.
[3] Về nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến nguyên nhân, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử bị cáo mức án 04 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo, cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo nhằm đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và răn đe, giáo dục phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm, do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo Lê DH phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Q Y T ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê DH, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lê DH (tên gọi khác: Bi) 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 18/6/2017.
Bị cáo Lê DH phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Đà Đ ng; - VKSND cấp cao tại Đà Đ ng; - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế; - Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế; - TAND thành phố Huế; - VKSND thành phố Huế; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Huế; - Chi cục THADS thành phố Huế; - Bị cáo; - Lưu: hồ sơ; Tòa HS; HCT . | TM. HỘ ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PH N - CHỦ TỌA PH N TÒA (Đã ký và đóng dấu) Tôn Anh D ng |