vanban.org

Bản án 12/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 17/05/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hoàng Bá S;

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đối trừ với số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0002861 ngày 23.11.2017 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho chị Nguyễn T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Hoàng Bá S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hoàng Bá S;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 17/5/2018
V/v tranh chấp ly hôn và con chungg.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chất

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thui Kim Hồng và ông Nguyễn Văn Khóa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Chính Hướng – Thư ký TAND tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở TAND tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số số 149/2017/TLST-HNGĐ ngày 27/11/2017 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/4/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1976;

Địa chỉ: Thôn BD, xã LĐ, huyện CG, tỉnh HD;

- Bị đơn: Anh Hoàng Bá S, sinh năm 1974;

Địa chỉ: Thôn BD, xã LĐ, huyện CG, tỉnh HD;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bầy: Chị với anh Hoàng Bá S được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn ngày 21/12/1992 có đăng ký tại UBND xã LĐ, CG, HD. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng nhà bố mẹ chồng ở thôn BD, xã LĐ. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh S đi nước ngoài không chịu làm ăn, hay chơi bời dẫn đến không có tiền gửi về cho gia đình, thậm trí chị còn phải gửi tiền sang cho anh S để trả nợ. Tình cảm vợ chồng ngày trở nên căng thẳng, anh S không quan tâm gì đến vợ con, khi cháu lớn xây dựng gia đình anh S cũng không về lo việc, chị H có khuyên bảo nhưng anh S không nghe mà vợ, chồng còn cãi nhau qua điện thoại và anh S thách thức ly hôn. Từ năm 2013 cho đến nay vợ chồng không quan tâm đến nhau, tháng 4/2018 anh S về nước nhưng tình cảm vợ chồng cũng không cải thiện được. nay chị H xác định tình cảm không còn đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh Sơn.

Về con chung, tài sản chung: chị H không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn là anh Hoàng Bá S trình bầy: Về điều kiện, thời gian kết hôn điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên cuối năm 2006 anh đi lao động tại HQ, thời gian đầu anh có gửi tiền về cho gia đình nhưng sau đó vì không có công ăn việc làm nên không có thu nhập. Anh thừa nhận chị H phải gửi tiền cho anh để trả nợ, anh cũng không giành nhiều thời gian để quan tâm đến gia đình. Vợ chồng đã nhiều lần cãi nhau trên điện thoại nhất là vào thời điểm tổ chức cưới hỏi cho con, chị H có nóng giận và thách thức ly hôn nên anh có bảo cứ làm đơn thì anh ký. Từ đó tình cảm vợ chồng có mâu thuẫn và không điện thoại hỏi thăm quan tâm đến nhau. Tháng 4/2018 anh về nước và có khuyên bảo chị H để vợ chồng đoàn tụ nhưng chị H không nghe và chị H chuyển đi nơi khác ở. Sau khi Tòa án hòa giải tình cảm vợ chồng không cải thiện được và anh S cũng không có biện pháp nào để khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ. Nay chị H làm đơn xin ly hôn, anh không muốn ly hôn và chỉ nhất trí khi anh và chị H phải giải quyết xong nhiều việc khác.

Về con chung, tài sản chung: Anh không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xác định tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Sơn.

Bị đơn anh S xác định đã khuyên bảo chị H nhiều lần nhưng chị H vẫn cương quyết ly hôn, anh đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết và chỉ nhất trí ly hôn khi giữa anh và chị H giải quyết xong một số việc.

Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm, xác định việc chấp hành tố tụng của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đảm bảo quy định của pháp luật.

- Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, áp dụng điều 56, 58, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 147 BLTTDS năm 2015 xử cho chị H được ly hôn anh Hoàng Bá S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự và ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Hoàng Bá S. Khi thụ lý hồ sơ vụ án, anh Sđang lao động tại HQ. Vì vậy Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Khoản 3 Điều 35 và Điều 37 BLTTDS.

.Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp để thu thập chứng cứ từ anh S nhưng chưa nhận được kết quả thì anh S về nước và tiếp tục tham gia tố tụng tại Tòa án, đến nay có mặt tại phiên tòa, nên giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

. Về nội dung:

.Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Hoàng Bá S trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã LĐ, huyện CG ngày 21/12/1992 là hôn nhân hợp pháp. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2006 khi anh S đi lao động tại HQ thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh S không chịu khó làm ăn, hay chơi bời, ít gửi tiền và quan tâm đến chị H và gia đình, ngược lại chị H không khéo léo trong việc cư xử và thông cảm cho anh S, dẫn đến tình cảm vợ chồng bị dạn nứt và trở lên căng thẳng từ năm 2013 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Vợ chồng còn cải nhau và thách thức ly hôn. Tháng 4/2018 anh S về nước nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện, mặc dù anh S đã tìm nhiều biện pháp để lứu kéo, khuyên bảo nhưng chị H cương quyết không nghe. Hội đồng xét xử thấy rằng tình cảm vợ chồng đã trở nên trầm trọng, cuộc sống không thể kéo dài và mục dích hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho chị H được ly hôn anh S là phù hợp với điều 51,56 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về con chung, tài sản chung không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Khoản 3 Điều 35 và Điều 37, khoản 4 Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

- Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hoàng Bá S;

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đối trừ với số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0002861 ngày 23.11.2017 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho chị Nguyễn Thị H, anh Hoàng Bá S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ