vanban.org

Bản án 12/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân:Xử cho chị Ngần Thị Ph được ly hôn anh Vì Văn V.

Về con chung: Tiếp tục giao cháu Vì Thị Di, sinh ngày 25/02/2001 cho chị Ph nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Vì Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị Ph, nhưng có quyền đi lại, chăm sóc con, không ai được quyền ngăn cản. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đặt vấn đề giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGẦN THỊ PH VÀ VÌ VĂN V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:Xử cho chị Ngần Thị Ph được ly hôn anh Vì Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V H
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2018/HNGĐ – ST.
Ngày: 23 tháng 8 năm 2018.
V/v Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mùi Văn Huấn.

2. Ông Tráng A Lứ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VH tham gia phiên toà: Ông Tưởng Phi Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khaivụ án thụ lý số: 73/2018/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2018 về việc Xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2018/ QĐXX-ST ngày 13 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngần Thị Ph. Sinh năm 1981.

Địa chỉ: Bản N H, xã X Nh, huyện VH, tỉnh Sơn La. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Vì Văn V. Sinh năm 1974.

Địa chỉ: Bản N H, xã X Nh, huyện VH, tỉnh Sơn La.

Hiện đang lao động tập trung tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, chị Ngần Thị Ph: Chị và anh Vì Văn V tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã XN, huyện VH, tỉnh Sơn La. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc mà luôn luôn mâu thuẫn. Vì thương và nghe lời bố mẹ, cho nên mặc dù anh V có một nhân thân không tốt, vừa đi chấp hành án cải tạo về, chị vẫn phải cắn răng chịu đựng khổ nhục khi sống với anh V gần 20 năm. Sau khi đi tù về, anh V tái nghiện ma túy. Chị nhiều lần khuyên ngăn, động viên không được. Anh V không hối cải còn sa đà nghiện ngập nặng hơn, bán hết tài sản trong gia đình để sử dụng ma túy, không quan tâm đến vợ con, hai lần phải đi cai nghiện bắt buộc. Kể từ khi anh V đi cai nghiện, vợ chồng đã ly thân 05 năm. Nay chị thấy vợ chồng khồng thể hàn gắn được nữa, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho ly hôn anh Vì Văn V.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh chị có hai người con chung: Cháu Vì Thị D, sinh ngày 03/9/1999, hiện đã lập gia đình riêng và cháu Vì Thị Di, sinh ngày 25/02/2001, hiện đang ở với chị. Nếu được ly hôn, chị đề nghị được quyền nuôi cháu Vì Thị Di, sinh ngày 25/02/2001 theo nguyện vọng của cháu, đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con cùng.

Về tài sản chung và nợ chung: Mặc dù sống với nhau cũng khá lâu, nhưng vì anh V nghiện ma túy, bán hết tài sản để chơi bời, nên không có tài sản gì đáng giá, không vay nợ ai. Do vậy, không đề nghị HĐXX xem xét.

Cuối cùng, nguyên đơn đề nghị HĐXX xem xét cho chị được ly hôn anh Vì Văn V và chấp nhận đề nghị được nuôi con chung.

- Ý kiến của bị đơn, anh Vì Văn V trình bày tại phiên hòa giải ngày 12/7/2018: Anh đã từng phạm tội và phải chấp hành án, nhưng vợ không biết động viên, chia sẻ, nên hay xảy ra mâu thuẫn. Thỉnh thoảng, vì quá nóng giận, anh có đánh vợ, nhưng vẫn muốn chị suy nghĩ, quay lại đoàn tụ. Vợ chồng anh chị không vay nợ và cho ai vay tài sản gì. Hơn nữa anh cho rằng chị Ph nên nghĩ đến các con, tha thứ cho anh. Các con là con chung, không thể chia rẽ được. Do vậy, không nhất trí ly hôn, không nhất trí cho chị Ph được nuôi con, đề nghị HĐXX xem xét.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VH phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng trong thụ lý, giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định của pháp luật. Xét thấy, vợ chồng chị Ngần Thị Ph và anh Vì Văn V ly thân đã lâu, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, tình cảm không còn, đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện của chị Ngần Thị Ph, xử cho chị được ly hôn anh Vì Văn V. Chấp nhận đề nghị của nguyên đơn về việc nuôi con chung và giải quyết phần án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Mặc dù Hôn nhân của chị Ngần Thị Ph và anh Vì Văn V là tự nguyện, đúng pháp luật. Tuy nhiên, do anh V đã từng phải chấp hành án, không biết cải sửa, hai lần phải cai nghiện bắt buộc, muốn quay lại đoàn tụ nuôi dạy con chung. HĐXX xét thấy, anh V có nhiều cơ hội sửa chữa sai lầm, nhưng không biết tu chí, còn hành hạ, đánh đập vợ. Hai anh chị đã ly thân một thời gian dài. Chị Ph đã phải chịu đựng nhẫn nhục gần 20 năm. Xét thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Ngần Thị Ph.

Về con chung:Anh Vì Văn V đang phải cai nghiện bắt buộc, không có điều kiện chăm sóc con chung. Do đó, chấp nhận đề nghị của chị Ngần Thị Ph và theo nguyện vọng của con. HĐXX xét thấy cần tiếp tục giao cháu Vì Thị Di, sinh ngày 25/02/2001 cho chị Ph nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Vì Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị Ph, nhưng có quyền đi lại, chăm sóc con, không ai được quyền ngăn cản.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đặt vấn đề giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn, chị Ngần Thị Ph khởi kiện phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 146, khoản 4 điều 147 BLTTDS; khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 57; điều 58; khoản 1, 2 điều 81; khoản 1,3 điều 82; điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 25, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

1. Về quan hệ hôn nhân:Xử cho chị Ngần Thị Ph được ly hôn anh Vì Văn V.

2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Vì Thị Di, sinh ngày 25/02/2001 cho chị Ph nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Vì Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị Ph, nhưng có quyền đi lại, chăm sóc con, không ai được quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đặt vấn đề giải quyết.

4. Về án phí: Chị Ngần Thị Ph chịu án phí xin ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào dự phí xin ly hôn là 300.000 đồng, tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0000982 ngày 10/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện VH.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ