vanban.org

Bản án 12/2018/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm c và điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự 2015; Điều 471, Điều 474 Bộ luật dân sự 2005; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thế V; Buộc anh Trần Văn B phải trả anh Nguyễn Thế V số tiền 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thế V - Trần Văn B"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c và điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự 2015; Điều 471, Điều 474 Bộ luật dân sự 2005; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 688 Bộ luật Dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 471 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2018/DS-ST
Ngày 31 tháng 10 năm 2018
Tr/ch: Kiện đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Tuyết Mai

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhụ và ông Nguyễn Quang Sức

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên - Thư ký TAND huyện Quế Võ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án “Kiện đòi tài sản” thụ lý số 59/2016/TLST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2016 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2018/QĐST- DS ngày 01 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thế V, sinh năm 1995 (có mặt) Địa chỉ: Thôn Liễn Thượng, xã Đại Xuân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

- Bị đơn: Anh Trần Văn B, sinh năm 1968 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn Bất Phí, xã Nhân Hòa, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Tiến L, sinh năm 1973 (có mặt) Địa chỉ: Thôn Liễn Thượng, xã Đại Xuân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

2. Chị Lê Thị A, sinh năm 1975 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn Bất Phí, xã Nhân Hòa, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là anh Nguyễn Thế V trình bày: Anh và anh Trần Văn B quen biết nhau từ trước, ngày 15/02/2014, anh Trần Văn B có hỏi vay anh số tiền 25.000.000đồng để lo công việc gia đình, khi vay anh B tự viết giấy biên nhận, không thỏa thuận lãi xuất, thời hạn trả là ngày 28/02/2014.

Đến hẹn anh B không trả, anh đến đòi nhiều lần thì anh B nói là tiền cá độ bóng đá với ông Nguyễn Tiến L (bố anh). Anh B xuất trình quyển sổ ghi chép về việc cá độ bóng đá do anh B tự viết không có liên quan gì đến việc vay số tiền trên của anh. Việc vay nợ giữa anh và anh B không có liên quan đến bố anh và chị Lê Thị A (vợ anh B). Khoản tiền anh cho anh B vay là tiền thật không phải tiền cờ bạc. Vì vậy anhđề nghị tòa án buộc anh B phải trả anh 25.000.000đồng tiền gốc, anh không yêu cầu đòi lãi.

Tại bản tự khai ngày 12/9/2016 bị đơn anh Trần Văn B trình bày: Cuối năm 2013 và đầu năm 2014, anh có chơi cá độ bóng đá với anh Nguyễn Tiến L (bố của V), khi anh L báo anh đã nợ gần hai mươi triệu đồng, nếu muốn chơi tiếp thì phải trả hết nợ. Do khi đó anh không có tiền trả nên anh L bảo anh đến vay của cháu V (con trai anh L), khi anh hỏi vay 25.000.000đ thì V đồng ý. V nói anh viết giấy vay của V 25.000.000đồng (viết tại nhà anh L), khi viết xong thì V không giao tiền mà trừ luôn vào số tiền nợ của anh L. Từ đó đến nay thì anh không chơi cá độ bóng đá với anh L nữa. Sau đó anh bị ốm phải đi viện thì V đến đòi nhiều lần, anh có nói sẽ thanh toán trả anh L. Chị Lê Thị A (vợ anh) đã đi vay tiền để trả anh L nhưng không lấy lại giấy biên nhận nên anh không có bằng chứng để cung cấp cho Tòa án. Như vậy số nợ anh viết giấy cho V, anh đã thanh toán xong nên không còn nợ V nữa và anh không đồng ý trả V 25.000.000đồng.

Tại biên bản hòa giải ngày 06/01/2017 anh B thừa nhận: Ngày 15/02/2014 anh có viết giấy vay cháu V 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) và hẹn đến ngày 28/02/2014 trả. Khi viết giấy anh hoàn toàn minh mẫn và không bị ép buộc. Số tiền vay là 25.000.000đồng trong đó trừ đi 14.000.000đồng nợ anh L, còn lại 11.000.000đồng V không đưa cho anh. Khoản vay giữa anh và anh L đã giải quyết xong nên anh không yêu cầu giải quyết nữa, số tiền 11.000.000đồng còn lại V không giao cho anh thì phải trả lại cho anh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án anh Nguyễn Tiến L trình bày: Sau khi anh B vay tiền của V thì anh B có mang trả nợ cho anh, việc vay nợ giữa anh và anh B đã giải quyết xong nên không có gì vướng mắc. Còn việc anh B nợ tiền của V là việc riêng giữa hai người không có liên quan đến anh, anh B và chị A không đưa tiền cho anh để trả cho V.

Tại phiên tòa hôm nay anh Trần Văn B và chị Lê Thị A vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố lời khai của anh Trần Văn B tại phiên tòa. Do chị A vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên tòa án không tiến hành lấy lời khai cũng như đối chất, hòa giải giữa các bên đương sự với chị A được.

Đại diện VKSND huyện Quế Võ tham gia phiên toà nhận xét:

Về tố tụng: Thẩm phán chủ toạ đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, đảm bảo trình tự thủ tục tố tụng dân sự.

Tại phiên toà HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo nguyên tắc xét xử công khai bằng lời nói và liên tục.

Đương sự thực thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 72 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng chị Lê Thị A và anh Trần Văn B không thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c và điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 471, Điều 474 Bộ luật dân sự 2005; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Thế V đối với bị đơn anh Trần Văn B. Buộc anh Trần Văn B phải trả anh Nguyễn Thế V số tiền 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).

- Án phí: Anh Trần Văn B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ tranh chấp: Ngày 15/02/2014, giữa anh Nguyễn Thế V và anh Trần Văn B có xác lập một giao dịch dân sự bằng văn bản (giấy vay tiền) về việc vay tài sản. Nội dung giấy vay tiền mà anh B viết thể hiện rõ người cho vay, người vay, số tiền vay và thời hạn vay. Vì vậy, đây là hợp đồng vay tài sản có thời hạn, không có lãi được quy định tại khoản 1 Điều 478 Bộ luật dân sự năm 2005; theo đó anh B vay anh V 25.000.000đồng từ ngày 15/02/2014, thời hạn trả là ngày 28/02/2014.

Như vậy, thời điểm xác định quyền và nghĩa vụ của anh V bị xâm hại là ngày 28/02/2014. Thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng tại thời điểm thụ lý vụ án là hai năm kể từ ngày 28/02/2014 (thời hạn cuối cùng là ngày 28/02/2016) nhưng ngày 30/8/2016 anh V mới khởi kiện tại tòa án (đã hết thời hiệu). Vì thế, tranh chấp trong vụ án này là kiện đòi tài sản (giải quyết về hợp đồng vay tài sản nhưng không tính lãi).

- Về tố tụng: Chị Lê Thị A và anh Trần Văn B đã được tống đạt hợp lệ 2 lần nhưng vẫn vắng mặt; do đó tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị A và anh B theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Ngày 15/02/2014, giữa anh Nguyễn Thế V và anh Trần Văn B có xác lập một hợp đồng vay tài sản, theo đó anh B vay của anh V 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) không có lãi, thời hạn trả là ngày 28/02/2014. Giấy vay do anh B tự viết, không bị ép buộc; trong quá trình giải quyết vụ án anh B vẫn thừa nhận chữ ký và chữ viết trong giấy vay tiền là của mình. Vì thế có căn cứ xác nhận Giấy vay tiền ngày 15/02/2014 do anh V nộp là hợp pháp.

Phía anh B lúc thì khai khoản vay trên đã được chị Lê Thị A (vợ anh) trả cho anh Nguyễn Tiến L (bố anh V) làm 2 lần, lần 1: trả 14.000.000đồng, lần 2: trả 11.000.000đồng nên không còn nợ anh V nữa. Cũng khoản nợ này anh B lại khai do anh chơi cá độ bóng đá với anh Nguyễn Tiến L bị thua nên không có tiền trả, vì vậy phải viết giấy biên nhận với V chứ thực chất anh không được nhận tiền.

Hội đồng xét xử xét thấy: Cùng một khoản vay ngày 15/02/2014 nhưng anh Trần Văn B lúc thì thừa nhận có vay nhưng đã trả, lúc thì khai là tiền cá độ bóng đá nên không trả. Lời khai của anh B trước sau bất nhất, hơn nữa anh B lại không xuất trình được chứng cứ chứng minh về việc trả nợ cho anh V cũng như các chứng cứ về việc cá độ bóng đá với anh L dẫn đến việc phải viết giấy vay nợ với anh V.

Ngày 06/01/2017, anh B nộp bản sao các tài liệu chứng minh anh cá độ bóng đá với anh L. Ngày 23/3/2017, Tòa án đã chuyển hồ sơ đến cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Quế Võ để làm rõ hành vi đA bạc giữa anh Trần Văn B và anh Nguyễn Tiến L. Ngày 26/9/2017 cơ quan điều tra công an huyện Quế Võ kết luận: “Không có căn cứ chứng minh việc đA bạc giữa anh Trần Văn B và anh Nguyễn Tiến L”. Vì vậy, không có cơ sở để xác định số tiền 25.000.000đồng trong giấy vay ngày 15/02/2014 là tiền cá độ bóng đã giữa anh Trần Văn B và anh Nguyễn Tiến L.

Đối với lời khai của anh Trần Văn B về việc nợ anh L 14.000.000đồng nhưng phải viết giấy vay nợ anh V 25.000.000đồng thì thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án anh B yêu cầu anh V phải trả lại anh 11.000.000đồng nhưng sau đó anh không nộp tạm ứng án phí đối với yêu cầu của mình đồng thời rút yêu cầu đòi anh V trả lại anh 11.000.000đồng. Vì vậy, Tòa án không xem xét giải quyết yêu cầu này của anh B.

Đối với lời khai của anh Trần Văn B về việc chị Lê Thị A đã trả anh V 10.000.000đồng và trả anh L 14.000.000đồng thì thấy: Đây chỉ là lời khai một phía của anh B và anh B cũng không xuất trình được chứng cứ chứng minh việc đã trả tiền cho anh V. Trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án nhiều lần triệu tập chị A đến làm việc nhưng chị A không có mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Do đó, tòa án không thể tiến hành lấy lời khai chị A, cũng như hòa giải, đối chất giữa các bên đương sự với chị A. Vì vậy không có căn cứ xác nhận chị A đã trả nợ thay anh B 25.000.000đồng như lời khai của anh B.

Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và đúng pháp luật nên cần chấp nhận, buộc bị đơn phải trả nguyên đơn số tiền 25.000.000đồng.

- Án phí: Do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điểm c và điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự 2015; Điều 471, Điều 474 Bộ luật dân sự 2005; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thế V;

Buộc anh Trần Văn B phải trả anh Nguyễn Thế V số tiền 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).

Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Án phí: Anh Trần Văn B phải chịu 1.250.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Nguyễn Thế V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận anh Nguyễn Thế V đã nộp 620.000đồng tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2013/04421 ngày 30/8/2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Hoàn trả anh Nguyễn Thế V 620.000đồng tại biên lai số AA/2013/04421 ngày 30/8/2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Án xử sơ thẩm, đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./. N¬i nhËn :

- Toµ ¸n tØnh;

Cỡ chữ