vanban.org

Bản án 12/2017/DS — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TX. Hương Trà, TP. Huế Tuyên án 09/10/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L. Buộc vợ, chồng ông Nguyễn Văn Q( Nguyễn Văn T) và bà Nguyễn Thị Y có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền nợ gốc là 80.000.000 đồng (Tám mƣơi triệu đồng). Về án phí dân sự sơ thẩm : Vợ, chồng ông Nguyễn Văn Q( Th ) và bà Nguyễn Thị Y chịu án phí t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị L kiện đòi nợ ông Nguyễn Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Luật án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 473 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bán án số : 12/2017/DSST
Ngày : 09/10/2017.
(V/v. Tranh chấp
Hợp đồng vay tài sản)
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Ông Lê Vũ Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Lê Anh Hiến
2. Bà Hồ Thị Linh
Tòa án nhân dân thị xã Hƣơng Trà.
Phan Anh Giáp – Kiểm sát viên.
14/7/2017 về việc “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo quyết định đƣa vụ án
ra xét xử số 11/2017/QĐST-TCHĐVTS ngày 08/09/2017 của Tòa án nhân dân thị
xã Hƣơng Trà giữa :
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1949.
Đƣơng sự có mặt tại phiên tòa .
1971.Nơi cƣ trú : 21/1 ( số mới 82 ) Địa L, xã Hƣơng V, thị xã Hƣơng T, TT
Huế.Đƣơng sự vắng mặt lần hai.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :
1. Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1973.
Đƣơng sự có mặt.
2. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1943.
Đƣơng sự vắng mặt có lý do.
Ngày 09 tháng 10 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hƣơng Trà

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 12/07/2017 và bản tự khai của bà Nguyễn Thị L thấy rằng : Vào năm 2014 do quen biết nên bà L có cho vợ, chồng ông Nguyễn Văn Q( Th ) và bà Nguyễn Thị Y mƣợn số tiền 80.000.000 đồng, hẹn trả vào ngày 30/4/2015 có viết giấy tay hẹn trả nợ. Khi giao tiền thì bà Y là ngƣời nhận tiền còn ông Q ( Th ) viết giấy nhận nợ, nhƣng đến hạn trả vợ, chồng ông Q ( Th) không thực hiện theo nhƣ cam kết. Đã nhiều lần bà Lan đến yêu cầu trả lại tiền nhƣng vợ, chồng ông Q ( Th ) không trả. Vì vậy, bà L có đơn gửi Tòa án yêu cầu buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Q( Th ) phải trả lại số tiền vay 80.000.000 đồng và lãi suất theo quy định ngân hàng từ 20/4/2015đến 30/5/2017 là 21.000.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bị đơn đến hòa giải nhƣng bị đơn cố tình không đến để giải quyết, chỉ có bà Y đến.

Tại bản tự khai ngày 21/7/2017 của bà Nguyễn Thị Y cũng xác nhận năm 2014 có mƣợn của bà L nhiều lần và đến khi chốt lại tiền nợ cả gốc và lãi là 80.000.000 đồng để buôn bán, nhƣng do làm ăn thua lỗ nên không trả đƣợc tiền cho bà L; nay bà L kiên đòi vợ, chồng bà Y trả số nợ 80.000.000 đồng, thì bà Y đồng ý nhƣng do khó khăn nên xin trả cho bà L mỗi tháng 1.000.000 đồng, còn tiền lãi thì bà Y xin không trả lãi cho bà L. Bà L không đồng ý.

Bà Y cũng xác nhận chồng bà là ông Nguyễn Văn Qcó tên thƣờng gọi là Nguyễn Văn Tlà ngƣời viết giấy nhận nợ với bà L.

Tại phiên tòa ngày 20/9/2017, sau khi hoãn phiên tòa do vắng mặt bị đơn, bà L đã tự nguyện viết đơn yêu cầu bổ sung gởi Tòa án có ý kiến là chỉ yêu cầu vợ chồng ông Q ( Th ) phải trả lại tiền gốc 80.000.000đ cho bà L và không yêu cầu tính lãi suất.

Tại phiên tòa hôm nay các bên đƣơng sự vẫn giữ nguyên ý kiến của mình.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của những ngƣời tiến hành tố tụng và các đƣơng sự tham gia phiên tòa. Phát biểu quan điểm về vụ án : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc vợ chồng ông Q ( Th ) và bà Y có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số nợ gốc 80.000.000đ, và chấp nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc rút yêu cầu tính lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa và kết quả hỏi tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định :

Về thủ tục tố tụng : Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là ông Nguyễn Văn Q ( Nguyễn Văn T) vắng mặt lần hai không có lý do, nên HĐXX căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung : Vào năm 2014 bà Nguyễn Thị L có cho vợ, chồng ông Nguyễn Văn Q( Th ), bà Nguyễn Thị Y mƣợn số tiền 80.000.000 đồng, hẹn trả vào ngày 30/4/2015 có viết giấy tay hẹn trả nợ. Khi giao tiền thì bà Y là ngƣời nhận tiền và ông Q ( Th ) viết giấy nhận nợ. Quá trình giải quyết vụ án tuy ông Q ( Th ) không đến Tòa án nhƣng vợ là bà Y có đến Tòa và đã xác nhận việc vay mƣợn xảy ra nhƣ trên là đúng.

Nhƣ vậy, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc vợ, chồng ông Nguyễn Văn Q( Th ) và bà Nguyễn Thị Y phải trả số tiền mƣợn 80.000.000 đồng là có căn cứ.

Quá trình hòa giải, bà Y cho rằng do làm ăn thua lỗ nên xin trả dần số nợ trên mỗi tháng 1.000.000đ, nhƣng bà L không đồng ý. Vì vậy, cần chấp nhận việc bà L buộc vợ, chồng ông Nguyễn Văn Q( Th ) và bà Nguyễn Thị Y phải trả 80.000.000 đồng tiền vay.

Về lãi suất, do nguyên đơn đã tự nguyện không yêu cầu tính lãi suất nên HĐXX không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm : Vợ, chồng ông Nguyễn Văn Q( Th ) và bà Nguyễn Thị Y phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 471, 473, 474 Bộ luật dân sự.

Điều 35, 39, 147, 227, 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Luật án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L. Buộc vợ, chồng ông Nguyễn Văn Q( Nguyễn Văn T) và bà Nguyễn Thị Y có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền nợ gốc là 80.000.000 đồng (Tám mƣơi triệu đồng).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm : Vợ, chồng ông Nguyễn Văn Q( Th ) và bà Nguyễn Thị Y chịu án phí tranh chấp là (80.000.000đồng x 5%) = 4.000.000đ.

Bà Nguyễn Thị L đƣợc trả lại số tiền tạm ứng án phí 2.525.000đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 009658 ngày 14/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hƣơng Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không chịu thi hành án các khoản tiền nói trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu một khoản lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trƣờng hợp quyết định này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho các đƣơng sự biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Đối với đƣơng sự vắng mặt đƣợc tính kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ