vanban.org

Bản án 11a/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 06/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Giáp Thị L phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Xử phạt Giáp Thị L 09 (chín) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/02/2020. Giao bị cáo Giáp Thị L cho UBND xã T, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giáp Thị L- Phạm tội "Môi giới mại dâm" - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Giáp Thị L phạm tội “Môi giới mại dâm”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11a/2020/HS-ST
Ngày 06-02-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và Ông Chu Quang Liêm

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiên - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Khoa- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2019/HSST ngày 25-12-2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Giáp Thị L, sinh năm 1984 tại xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Trình độ văn hoá: 02/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Giáp Văn N và bà Hoàng Thị Ng; chồng: Không xác định, có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Bà Trƣơng Thị T, sinh năm 1968.

Trú tại: Phố Q, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

2. Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1983.

Trú tại: thôn K, xã M, huyện An Lão, TP Hải Phòng

3. Anh Mạc Văn C, sinh năm 1987.

Trú tại: thôn P, xã P, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dƣơng

4. Ông Trần Huy B, sinh năm 1965.

Trú tại: Phố Q, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

Bà T, chị H, anh C, ông B đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Giáp Thị L là nhân viên phục vụ quán hát cho Nhà nghỉ- Karaoke S, khoảng 22 giờ 45 phút, ngày 09/10/2019, Phạm Văn B (tên tự khai lúc bị bắt) cùng Mạc Văn C đến nhà nghỉ- Karaoke S thuê phòng nghỉ. Tại đây, B gặp và đặt vấn đề mua dâm với Giáp Thị L với giá 250.000 đồng/lƣợt, L đồng ý. Do C cũng muốn mua dâm nên B nhờ L tìm cho một ngƣời nữa đến bán dâm. L dùng điện thoại Iphone 6S Plus lắp sim số 0982.093…. gọi đến số điện thoại 0368.699…. của Đỗ Thị H. ở thôn K, xã M, huyện An Lão, TP Hải Phòng rủ H đến nhà nghỉ- quán Karaoke S bán dâm cho C với giá 250.000 đồng, H đồng ý và đi đến quán Karaoke S. Sau khi thống nhất xong, L nhận số tiền 500.000 đồng là tiền của B trả tiền B và C mua dâm L và H. Khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, khi B và L đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 105, C và H đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 102 nhà nghỉ Karaoke S thì bị tổ công tác thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm 02 bao cao su đã qua sử sụng, 01 điện thoại Iphone 6S Plus của Giáp Thị L, 01 điện thoại SamSung A7 của Đỗ Thị H, số tiền 500.000 đồng trong ngƣời Giáp Thị L.

Tại bản Cáo trạng số: 05/CT-VKS ngày 23-12-2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Giáp Thị L về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 BLHS. Tuyên bố bị cáo Giáp Thị L phạm tội “Môi giới mại dâm”; xử phạt Giáp Thị L từ 09 đến 12 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Giáp Thị L cho UBND xã T, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); tịch thu tiêu hủy một bì niêm phong bên trong chứa 02 bao cao su đã quả sử dụng, 02 vỏ bao cao su, 01 sim điện thoại có thuê bao số 0982.093.266; tịch thu phát mại nộp vào Ngân sách nhà nƣớc 01 điện thoại di động Iphone 6S Plus; tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc số tiền 500.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố và luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản vụ việc, lời khai của ngƣời làm chứng, vật chứng thu giữ, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 45 phút, ngày 09/10/2019, tại nhà nghỉ- Karaoke S ở phố Q, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, Giáp Thị L đã có hành vi làm trung gian, dẫn dắt cho Mạc Văn C mua bán dâm với Đỗ Thị H với giá 250.000 đồng/01 lần. Khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, khi H và C đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 102 thì bị bắt quả tang. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ đƣợc hành vi môi giới mại dâm là vi phạm pháp luật, song vì nể nang bạn bè và ý thức coi thƣờng pháp luật, bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Môi giới mại dâm” quy định tại Điều 328 BLHS, nhƣ cáo trạng mà VKSND huyện Tứ Kỳ đã truy tố là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến đạo đức, thuần phong, mỹ tục, nếp sống văn minh, lành mạnh, gây mất trật tự an ninh trên địa bàn mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều bệnh truyền nhiễm. Do vậy, cần phải xem xét, xử lý theo pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng nên đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS, bản thân bị cáo hiện không có chồng, đang phải nuôi con nhỏ, trong đó có một con bị khuyết tật, phạm tội mang tính chất nể nang, không có mục đích tƣ lợi. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt thể hiện bằng việc chƣa có tiền án, tiền sự, có nơi cƣ trú ổn định. Vì vậy, cần xem xét, áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của BLHS, cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, ấn định thời gian thử thách, tạo điều kiện cho bị cáo đƣợc cải tạo tại địa phƣơng cũng đủ giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 328 BLHS.

Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 500.000 đồng thu của bị cáo L, đây là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc; Chiếc điện thoại di động Iphone 6S Plus bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại nộp vào Ngân sách Nhà nƣớc. Đối với 01 sim điện thoại, 02 bao cao su đã qua sử dụng, 02 vỏ bao cao su là vật chứng vụ án, không còn giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động SamSung A7 thu giữ của Đỗ Thị H. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Đỗ Thị H nên không đặt ra giải quyết.

Đối với hành vi mua, bán dâm của Giáp Thị L, Mạc Văn C, Đỗ Thị H. Chủ tịch UBND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp. Đối với đối tƣợng mua dâm tự khai Phạm Văn B đã bỏ trốn, xác minh tại địa chỉ khai báo không xác định đƣợc lý lịch của ngƣời đã mua bán dâm với Giáp Thị L nên không đặt ra xử lý.

Đối với bà Trƣơng Thị T là chủ kinh doanh Nhà nghỉ, Karaoke S để xẩy ra hành vi mua bán dâm tại Cơ sở kinh doanh do mình quản lý nên Chủ tịch UBND huyện Tứ Kỳ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 328, điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Giáp Thị L phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Xử phạt Giáp Thị L 09 (chín) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/02/2020.

Giao bị cáo Giáp Thị L cho UBND xã T, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc số tiền 500.000 đồng; Tịch thu phát mại nộp vào Ngân sách Nhà nƣớc 01 điện thoại di động Iphone 6S Plus; Tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong bên trong chứa 02 bao cao su đã qua sử dụng, 02 vỏ bao cao su, 01 sim điện thoại.

(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 21-01-2020).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về ... án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Giáp Thị L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ