vanban.org

Bản án 1198/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Kim L

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim L được ly hôn ông Trần Anh T Về con chung: Có 02 con chung là Trương Trần Nhật V, sinh ngày 03/3/1999 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Kim L
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Điều 27 Thông tư số 236/2016/TT-BTC Quy định về giá dịch vụ thẩm địn…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1198/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 29/11/2018
V/v: tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: OÂng Đỗ Việt Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bình

2. Ông Nguyễn Thành Lân

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Trúc Giang, Kiểm sát viên

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân

Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

Trong ngày 29/11/2018 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Tân Bình, xét

xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số 596/2018/HNST ngày 02/7/2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 295/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/11/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1972

Địa chỉ: 21/39/9, Phường X, quận Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh

Bị đơn: Ông Trần Anh T, sinh năm 1973

Địa chỉ: 21/39/9, Phường X, quận Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/06/2018 và bản tự khai ngày 30/8/2018 của

nguyên đơn bà Trần Thị Kim L trình bày: Tôi và ông T kết hôn năm 1995. Sau khi kết hôn, chúng tôi chung sống tại 21/39/9, Phường X, quận Tân Bình. Chung sống được một thời gian thì ông T có quan hệ với một người phụ nữ khác và bỏ nhà đi chung sống với người phụ nữ đó từ năm 2010, đến năm 2013 ông T về nhà và hối thúc tôi làm đơn thuận tình ly hôn, tuy nhiên sau khi tôi ký xong thì ông T lại không muốn ly hôn nữa. Sau đó ông T lại tiếp tục bỏ nhà đi, tôi đã tha thứ cho ông T nhiều lần nhưng ông không thay đổi, cuộc sống nhiếu mâu thuẫn, bất đồng quan điểm không thể chia sẻ được nên tôi xin được ly hôn với ông T.

Về con chung, chúng tôi có 02 con chung là Trương Trần Anh T - sinh năm

1996 và Trương Trần Nhật V - sinh năm 1999.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về việc kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng

cứ và hòa giải nhưng ông T vắng mặt.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn bà Trần Thị Kim L trình bày: Tôi vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi

kiện. Về quan hệ hôn nhân xin được ly hôn với ông T, về con chung hai con chung đã trưởng thành, về tài sản chung và nợ chung không có.

Đại diện Viển kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

phát biểu ý kiến: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đủ thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra

tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Căn cứ vào lời khai của đương sự thì giữa các bên đã

phát sinh quan hệ tranh chấp “Ly hôn”. Xét việc khởi kiện của bà Trần Thị Kim L phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình.

Về thủ tục tố tụng: Xét bị đơn ông Trần Anh T đã được Tòa án tống đạt

thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn vắng mặt.

Căn cứ khoản Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng

mặt ông T là có căn cứ.

Xét yêu cầu của nguyên đơn

Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 123, quyển số 1/1995 ngày

08/12/1995 của Ủy ban nhân dân Phường X, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh thì quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được pháp luật bảo vệ.

Do ông T không đến Tòa án nên không có được lời khai. Tuy nhiên, theo nội

dung đơn khởi kiện cũng như lời trình bày của bà L thì việc bà xin ly hôn với ông T là do ông T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, đã từng bỏ nhà đi để chung sống như vợ chồng với người phụ nữ ấy, bà đã tha thứ nhưng ông T vẫn không thay đổi. Tại phiên tòa hôm nay, bà L cho biết bà không còn tình cảm gì đối với ông T và mong muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống. Xét mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L là được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà L và ông T có 02 con chung là Trương Trần Nhật V - sinh

ngày 03/3/1999 và Trương Trần Anh T - sinh ngày 13/8/1996 (cả 02 đã trưởng thành).

Về tài sản chung và nợ chung: Bà L khai không có.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000đ, số tiền này

được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí, lệ phí nguyên đơn đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0008541 ngày 26/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 236/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Kim L

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim L được ly hôn ông Trần Anh T

- Về con chung: Có 02 con chung là Trương Trần Nhật V, sinh ngày 03/3/1999

và Trương Trần Anh T, sinh ngày 13/8/1996 (cả 02 đã trưởng thành).

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Kim L khai không có.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị Kim L phải chịu án phí sơ thẩm là

300.000đ, số tiền này được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí, lệ phí nguyên đơn đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0008541 ngày 26/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có măt được quyền kháng cáo trong thời hạn

15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết tại địa phương theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi

hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án,người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ