vanban.org

Bản án 119/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 17/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn T và Lý Minh K - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VƯC 4 – CÂN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2026/HS-ST
Ngày: 17 - 7 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VƯC 4 - CÂN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đoàn Sơn Lâm

2. Ông Đặng Công Văn

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Thư ký Toà án nhân dân Khu vưc 4 - Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vưc 4 – Cân Thơ tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2026, tại tru sơ Toa án nhân dân Khu vưc 4 – Cần Thơ, tiên hành xét xử sơ thẩm công khai vu án hình sư thu lý số: 122/2025/HSST ngày 02 tháng 7 năm 2026, theo Quyêt định đưa vu án ra xét xử số: 759/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2026, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Huỳnh Văn T; Tên gọi khác: không; Giới tính: nam; Sinh ngày 09 tháng 9 năm 1984; Nơi thường trú: khu vưc T, phường P, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không có; Trình độ học vấn: không biêt chữ; Nghề nghiệp: không; Đảng, đoàn thể: không. Con ông: Ngô Văn S, năm sinh không rõ (chêt); Con bà: Huỳnh Thị B, sinh năm 1954 (chêt); A, chị, em ruột có 03 người, người lớn nhất sinh năm 1979, người nhỏ nhất sinh năm 1988; Vợ: Trần Thị H, sinh năm 1986; Con có 03 người: người lớn nhất sinh năm 2004, người nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền sư: không có; Tiền án: ngày 20/9/2024, bị Toa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sư. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/11/2024 (giấy chứng nhận số 41/GCN), nộp án phí hình sư sơ thẩm ngày 28/11/2024. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2025 cho đên nay, tại Phân trại Tạm giam Cờ Đỏ, Trại tạm giam số 1 Công an thành phố C. Có mặt.

2. Họ và tên: Lý Minh K; Tên gọi khác: Quí; Giới tính: nam; Sinh ngày 08 tháng 8 năm 1995; Nơi thường trú: khu vưc B, phường P, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: không có; Trình độ học vấn: không biêt chữ; Nghề nghiệp: không; Đảng, đoàn thể: Không. Con ông: Lý S1, năm sinh 1968 (sống); Con bà: Liêu Thị M, sinh năm 1966 (sống); Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sư: không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2025 cho đên nay, tại Phân trại Tạm giam Cờ Đỏ, Trại tạm giam số 1 Công an thành phố C. Có mặt.

Bị hại:

- Ông Trần Văn H1, sinh năm 1977. Vắng mặt

Cư trú: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.

- Ông Trần Quang H2, sinh năm 1990. Vắng mặt

Cư trú: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.

- Ông Trịnh Văn S2, sinh năm 1971. Vắng mặt

Cư trú: Ấp T, phường Ô, thành phố Cần Thơ.

- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1970. Vắng mặt

Cư trú: Khu vưc T, phường T, thành phố Cần Thơ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1974. Có mặt

Cư trú: Khu vưc T, phường T, thành phố Cần Thơ.

- Ông Trần Minh Hữu N, sinh năm 1989. Vắng mặt

Cư trú: Khu vưc T, phường P, thành phố Cần Thơ.

- Ông Tăng Long T2, sinh năm 1975. Vắng mặt

Thường trú: Ấp An Ninh 2, xã An Lạc Thôn, thành phố Cần Thơ.

Nơi ơ: Ấp Phú Lễ A, xã Phú Hữu, thành phố Cần Thơ.

- Ông Đỗ Thành Q, sinh năm 1988. Vắng mặt

Cư trú: Ấp N, xã N, thành phố Cần Thơ.

- Bà Nguyễn Thị Mộng T3, sinh năm 1970. Vắng mặt

Cư trú: Khu vưc T, phường T, thành phố Cần Thơ.

- Ông Nguyễn Thành N1, sinh năm 1978. Vắng mặt

Thường trú: Khu vưc L, phường T, thành phố Cần Thơ.

Nơi ơ: Khu vưc T, phường T, thành phố Cần Thơ.

- Ông Trần Văn B1, sinh năm 1984. Có mặt

Cư trú: Ấp V, xã V, tỉnh An Giang.

- Chị Huỳnh Thị N2, sinh năm 2004. Có mặt

Cư trú: Khu vưc T, phường P, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VU ÁN:

Qua các tài liệu có trong hô sơ vụ án và quá trinh xet hoi, tranh luân tại phiên toa, nội dung vụ án được tóm tăt như sau:

Vào lúc 18 giờ 10 phút, ngày 22/12/2025, Công an xã T, thành phố Cần Thơ tiêp nhận tin báo của ông Nguyễn Văn T1 về việc bị mất trộm tài sản là 01 xe mô tô biển kiểm soát số 67C1-376.61, xảy ra tại ấp A, xã T, thành phố Cần Thơ. Qua xác minh nghi ngờ Huỳnh Văn T và Lý Minh K lấy trộm nên Công an tiên hành mời làm việc. Huỳnh Văn T và Lý Minh K khai nhận:

Vào khoảng 06 giờ 58 phút, ngày 22/12/2025, T và K uống cà phê gần bên xe Ô, thuộc phường Ô, thành phố Cần Thơ thì T rủ K đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, K đồng ý. T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65T1-7022 chơ K đi về hướng Nông trường S, thuộc ấp A, xã T, thành phố Cần Thơ, T phát hiện xe mô tô Wave Honda màu trắng đen, biển kiểm soát 67C1-376.61 (của ông Nguyễn Văn T1) đang đậu trên đường lộ, có ghim sẵn chìa khóa trong ổ khóa xe và không có ai trông coi nên dừng xe xuống lấy trộm. T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65T1-7022 con K điều khiển xe biển kiểm soát 67C1-376.61 trộm được, cả hai điều khiển xe đên vưa phê liệu của ông Nguyễn Văn V tại khu vưc T, phường T, thành phố Cần Thơ, bán xe cho ông V được số tiền 800.000 đồng, K và T chia nhau mỗi người 400.000 đồng tiêu xài cá nhân.

Sau khi mua xe mô tô biển kiểm soát 67C1-376.61, đên ngày 23/12/2025, ông Nguyễn Văn V đã bán lại cho ông Tăng Long T2 với số tiền 1.200.000 đồng.

Ngoài ra, Huỳnh Văn T và Lý Minh K con khai nhận đã thống nhất cùng nhau thưc hiện 03 vu trộm xe mô tô khác, cu thể như sau:

Vu thứ nhất: Vào khoảng 15 giờ ngày 14/12/2025, Huỳnh Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65F4-0337 chơ Lý Minh K đi tìm tài sản để trộm cắp. Khi đên tuyên đường lộ nông thôn thuộc khu vưc Viện Lúa Đồng bằng sông C, phường Ô, thành phố Cần Thơ, T phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu đỏ biển kiểm soát 65H1-094.05 (của ông Trần Văn H1) đang đậu ven đường không có người trông giữ. T dùng chìa khóa xe đang sử dung mơ khóa khơi động xe mô tô biển kiểm soát 65H1-094.05 chạy đi, K chạy xe mô tô biển kiểm soát 65F4-0337 theo sau. Sau khi lấy được xe, K điều khiển xe mô tô lấy trộm được về nhà K, con T điều khiển xe của T về nhà.

Vu thứ hai: Sau vu thứ nhất khoảng 04 ngày, lúc khoảng 08 giờ, Lý Minh K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65H1-094.05 đên nhà Huỳnh Văn T để chơ T đi tìm tài sản để lấy trộm. Sau đó, Huỳnh Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65H1-094.05 chơ K đi đên đoạn đường nông thôn, thuộc xã T, thành phố Cần Thơ thì phát hiện xe mô tô loại xe Wave, màu bạc, biển kiểm soát 95H1-648.66 (của ông Trần Quang H2) đang đậu, có ghim sẵn chìa khóa. T dừng xe lại, K xuống lấy trộm xe mô tô biển kiểm soát 95H1-648.66 và điều khiển về nhà trọ của K, con T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65H1-094.05 về nhà T.

Vu thứ ba: Vào khoảng 06 giờ, ngày 18 tháng 12 năm 2025, Huỳnh Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 95H1-648.66 từ nhà của T đên nhà trọ của K, chơ K đi tìm tài sản để lấy trộm. T chơ K vào tuyên đường Viện lúa Đồng Bằng Sông C, chạy đên lộ nông thôn thuộc ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Angel biển kiểm soát 65GA-017.74, màu đỏ, trắng - đen (của ông Trịnh Văn S2) đậu trên đường lộ nông thôn, không có người trông giữ. Khang ngồi trên trên xe cảnh giới, T xuống lấy chìa khóa xe mô tô T đang chạy mơ khóa xe Angel, T kêu K điều khiển xe mô tô Angel biển kiểm soát 65GA-017.74 chạy về vưa phê liệu của ông Nguyễn Văn V bán cho ông V được số tiền 1.200.000 đồng. T và K chia đều mỗi người 600.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân.

Cùng ngày 18 tháng 12 năm 2025, ông Nguyễn Văn V giới thiệu để T và K bán xe mô tô biển kiểm soát 95H1-648.66 cho Trần Minh Hữu N được số tiền 2.500.000 đồng, chia đều mỗi người 1.150.000 đồng tiêu xài cá nhân, con lại 200.000 đồng T cho ông Nguyễn Văn V. Khi bán xe, T tháo biển kiểm soát 951-648.66 đem về nhà. Khoảng 4 ngày sau, khi T uống nước tại quán cà phê gần Trung tâm Văn hóa Ô, thuộc phường Ô, thành phố Cần Thơ, T mua một chiêc xe mô tô của một người thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ, sau đó T gắn biển kiểm soát số 95H1-648.66 vào xe và đưa xe cho Lý Minh K sử dung.

Sau khi mua xe, do không có biển kiểm soát nên Trần Minh Hữu N sử dung biển kiểm soát 54X2-0043 gắn vào và sử dung cho đên khi giao nộp Công an.

Các lần lấy trộm tài sản, Huỳnh Văn T và Lý Minh K mỗi người thu lợi được số tiền 2.150.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiên hành thu giữ các vật chứng, tài sản sau đây:

+Thu giữ tại cơ sơ thu mua phê liệu của ông Nguyễn Văn V: 01 xe mô tô không có biển kiểm soát, màu trắng - đen, kiểu dáng Wave, số máy: HC09E6325426; số khung: 09076Y325302.

+Thu giữ của Huỳnh Văn T: 01 xe mô tô hiệu Wave màu đỏ; biển kiểm soát 65T1 - 7022; số máy: HC12E-0526089; đã qua sử dung; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 007906 có tên Nguyễn Thị Mộng T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 màu xanh đã qua sử dung; 01 mũ bảo hiểm màu trắng có 02 chấm đỏ (trên nón có chữ Tokyo life); 01 nón kêt màu nâu chữ PRADA phía trước; 01 (một) quần jean dài màu xanh hiệu REGIS TerLD; 01 áo sơ mi tay dài màu xanh; 01 áo thun màu đen; 01 chìa khóa; 01 thẻ giữ xe Bệnh viện Y; tiền Việt Nam 3.524.000 đồng.

+Thu giữ của Lý Minh K: 01 cây dao Thái Lan có đặc điểm dài 21,5 cm, cán bằng nhưa màu vàng dài 10 cm, lưỡi 11,5 cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu sam sung - Galaxy A06; màu xanh- đen; số sê ri R8YY50SJNVH; 01 mũ bảo hiểm màu xanh; 01 chiêc nón kêt vải màu xanh có chữ “M” phía trước; tiền Việt Nam 48.000 đồng.

+Thu của Trần Minh Hữu N: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 013545, tên chủ xe Trịnh Văn S2; 01 xe mô tô biển kiểm soát 65GA-017.74 (xe của Trịnh Văn S2), nhãn hiệu SYM, số loại Elegant, màu đỏ - trắng - đen, số khung RLGSC05MHEH010220, số máy VMSE1A-H010220; 01 xe mô tô biển kiểm soát 54X2-0043 (xe của Trần Quang H2 biển số thật là 95H1-648.66), dáng Wave, màu trắng, số khung RLHHC08072Y013296, số máy HC08E-0013257.

Quá trình điều tra, Công an xã T, thành phố Cần Thơ chuyển giao các vật chứng mà Huỳnh Văn T và Lý Minh K lấy trộm gồm: 01 xe mô tô Wave Alpha, màu đỏ, biển kiểm soát 65H1-094.05 (xe của Trần Văn H1), số máy HC09E0164255, số khung 09043Y164094; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 010791, tên chủ xe Trần Văn H1; 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, màu nâu, biển kiểm soát 65F4-0337, số máy 50FMG*01513860*, số khung DR100*01010368*; 01 giấy đăng ký xe mô tô A011087, tên chủ xe Nguyễn Thành N1; 01 xe mô tô Wave Alpha, màu đỏ, biển kiểm soát 95H1-648.66, số máy 1P53FMH*10462365*, số khung VTWPCH0A32W005836.

Tại Kêt luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 26/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tung hình sư Ủy ban nhân dân xã T kêt luận tổng giá trị tài sản: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 67C1-376.61, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave RS, màu trắng – đen, số máy: HC09E6232542, đã qua sử dung tại thời điểm ngày 22/12/2025 có giá trị là 6.000.000 đồng.

- Tại Kêt luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 16/4/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tung hình sư Ủy ban nhân dân xã T kêt luận: 01 xe mô tô Wave Alpha, màu đỏ, biển kiểm soát 65H1-094.05, số máy HC09E0164255, số khung 09043Y164094, đã qua sử dung, tại thời điểm ngày 14/12/2025 có giá trị là 8.000.000 đồng; 01 xe mô tô biển kiểm soát 65GA-017.74, nhãn hiệu SYM, số loại Elegant, màu đỏ trắng đen, số khung RLGSCOSMHEH010220, số máy VMSE1A-H010220, đã qua sử dung, tại thời điểm ngày 18/12/2025 có giá trị là 4.500.000 đồng; 01 xe mô tô biển kiểm soát 9HI- 648.66, dáng Wave, màu trắng, số khung RLHHC08072Y013296, số máy HCO&E-0013257, đã qua sử dung, tại thời điểm tháng 12/2025 có giá trị là 5.000.000 đồng; 02 voe (giỏ) xách đệm màu xanh (loại xách 22 dây) đã qua sử dung, tại thời điểm ngày 22/12/2025 có giá trị là 220.000 đồng; 03 thanh kim loại bằng sắt hình tron (loại ty phuộc xe máy) mỗi cây dài 35 cm, đã qua sử dung, tại thời điểm ngày 22/12/2025 có giá trị là 60.000 đồng.

Tổng cộng tài sản các bị cáo lấy trộm có giá trị là 23.780.000 đồng (hai mươi ba triệu, bảy trăm tám mươi đông).

- Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng như sau:

+Trả lại ông Nguyễn Văn T1: 01 xe mô tô biển kiểm soát 67C1-376.61, kiểu dáng Wave, số máy HC09E6325426, số khung 09076Y325302, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 017449, 02 vỏ (giỏ) xách đệm màu xanh.

+Trả lại ông Trịnh Văn S2: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 013545 và 01 xe mô tô biển kiểm soát 65GA-017.74, nhãn hiệu SYM, số loại Elegant, màu đỏ - trắng - đen, số khung RLGSC05MHEH010220, số máy VMSE1A-H010220.

+Trả lại ông Trần Văn H1: 01 xe mô tô Wave alpha, màu đỏ, biển kiểm soát 65H1-094.05, số máy HC09E0164255, số khung 09043Y164094; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 010791.

+Trả lại ông Trần Quang H2: 01 xe mô tô biển kiểm soát 95T1-648.66, dáng Wave, màu trắng, số khung RLHHC08072Y013296, số máy HC08E-0013257.

- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 65T1-7022, qua tra cứu có số máy C12E-0526089, số khung 2268Y-017008, do ông Bùi Phi D là chủ sơ hữu, ông D đã cho con gái tên Bùi Thị Kiều M1 sử dung. Chị M1 sử dung xe và bị mất trộm vào ngày 21/12/2025 tại địa bàn xã T, tỉnh Vĩnh Long. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển nguồn tin kèm theo xe mô tô biển kiểm soát 65T1-7022 đên Công an xã T, tỉnh Vĩnh Long thu lý giải quyêt theo thẩm quyền.

- Đối với vật chứng, tài sản con lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ chờ xử lý theo quy định.

- Về trách nhiệm dân sư: Ông Trần Minh Hữu N yêu cầu Huỳnh Văn T và Lý Minh K bồi thường số tiền số tiền 2.500.000 đồng, T và K đồng ý bồi thường mỗi người 1.250.000 đồng nhưng chưa bồi thường. Ông Nguyễn Văn V không có yêu cầu Huỳnh Văn T và Lý Minh K bồi thường. Ông Tăng Long T2 không yêu cầu ông Nguyễn Văn V phải bồi thường số tiền 1.200.000 đồng mà T2 đã mua xe của V sau đó bị công an thu giữ. Tại Cáo trạng số 144/CT-VKS ngày 01 tháng 7 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vưc 4 - Cần Thơ, truy tố Huỳnh Văn T, Lý Minh K về tội "Trộm căp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sư năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên toa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Kiểm sát viên thưc hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:

- Về trách nhiệm hinh sư:

Áp dung khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; 38; 58 của Bộ luật Hình sư năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T từ 02 (hai) năm đên 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

+ Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.

Áp dung khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; 38; 58 của Bộ luật Hình sư năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Lý Minh K từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đên 02 (hai) năm tù.

+ Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sư, xư lý vât chưng:

+Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã quyêt định xử lý vật chứng trả lại cho các bị hại Nguyễn Văn T1, Trịnh Văn S2, Trần Quang H2, Trần Văn H1 gồm xe, giấy đăng ký xe, tài sản kèm theo xong. Các bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác.

+Công nhận những người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan Nguyễn Văn V, Tăng Long T2 không có yêu cầu gì.

+Buộc các bị cáo Huỳnh Văn T và Lý Minh K có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Trần Minh Hữu N số tiền 2.500.000 đồng, mỗi bị cáo 1.250.000 đồng.

+Buộc các bị cáo Huỳnh Văn T và Lý Minh K, mỗi bị cáo nộp lại tiền thu lợi bất chính 900.000 đồng (sau khi trừ số tiền mỗi bị cáo bồi thường cho ông Trần Minh Hữu N), để sung ngân sách nhà nước.

+Trả lại 01 xe mô tô biển số 65F4-0337, số máy 50FMG*01513860*, số khung DR100*01010368* và 01 giấy đăng ký xe mô tô A011087 tên chủ xe Nguyễn Thành N1 cho chị Huỳnh Thị N2, do xe này ông Trần Văn B1 mua của người khác chưa sang tên chủ sơ hữu (con đứng tên Nguyễn Thành N1) và cho Huỳnh Thị N2 sử dung, chị N2 không biêt bị cáo T sử dung xe để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản.

+Trả lại Huỳnh Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 màu xanh đã qua sử dung; 01 chìa khóa; 01 thẻ giữ xe Bệnh viện Y; tiền Việt Nam 3.524.000 đồng.

+Tịch thu tiêu huỷ của Huỳnh Văn T: 01 mũ bảo hiểm màu trắng có 02 chấm đỏ (trên nón có chữ Tokyo life); 01 nón kêt màu nâu chữ PRADA phía trước; 01 (một) quần jean dài màu xanh hiệu REGIS TerLD; 01 áo sơ mi tay dài màu xanh; 01 áo thun màu đen.

+Trả lại Lý Minh K: 01 điện thoại di động nhãn hiệu sam sung - Galaxy A06; màu xanh- đen, số sê ri R8YY50SJNVH; tiền Việt Nam 48.000 đồng.

+Tịch thu tiêu huỷ của Lý Minh K: 01 cây dao Thái Lan có đặc điểm dài 21,5 cm, cán bằng nhưa màu vàng dài 10 cm, lưỡi 11,5 cm; 01 mũ bảo hiểm màu xanh; 01 chiêc nón kêt vải màu xanh có chữ “M” phía trước.

+Đối với 01 biển số xe 54X2-0043 không xác định được chủ sơ hữu nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định pháp luật.

+ Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra tiêp tuc tạm giữ, xác minh tìm chủ sơ hữu xe mô tô 01 Wave, màu đỏ, số khung: 1P53FMH*10462365*, số máy WTWPCHOA32W005846, để giải quyêt theo quy định. Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHÂN ĐINH CỦA HỘI ĐÔNG XET XƯ:

Trên cơ sơ nội dung vu án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vu án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyêt định tố tung của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thưc hiện đúng về thẩm quyền, trình tư thủ tuc quy định của Bộ luật Tố tung hình sư. Quá trình điều tra và tại phiên toa không có người nào khiêu nại về hành vi, quyêt định của Cơ quan tiên hành tố tung, người tiên hành tố tung. Do đó, các hành vi, quyêt định tố tung của Cơ quan tiên hành tố tung, người tiên hành tố tung đã thưc hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên toà, bị hại, một số người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai rõ ràng trong điều tra, sư vắng mặt của những người này không ảnh hương đên việc giải quyêt vu án. Do đó, căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tung hình sư, vẫn tiên hành xét xử vu án là phù hợp.

[3] Trong điều tra và tại phiên toa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra.

Như vậy, có cơ sơ xác định trong khoảng thời gian từ ngày 14/12/2025 đên ngày 22/12/2025, các bị cáo Huỳnh Văn T và Lý Minh K đã thống nhất cùng nhau nhiều lần lấy trộm tài sản của người khác để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài và sử dung cá nhân. Qua điều tra xác định được các bị cáo đã lợi dung sư sơ sơ của chủ sơ hữu, người quản lý tài sản để lén lút chiêm đoạt trái phép tài sản của các bị hại là ông Nguyễn Văn T1, ông Trịnh Văn S2, ông Trần Quang H2, ông Trần Văn H1. Tài sản mà các bị cáo trộm cắp là xe mô tô và tài sản trên xe, theo kêt luận định giá tài sản có tổng giá trị là 23.780.000 đồng. Hành vi các bị cáo thưc hiện đã xâm phạm đên quyền sơ hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đủ năng lưc chịu trách nhiệm hình sư, thưc hiện hành vi với lỗi cố ý trưc tiêp. Do đó, việc truy tố, xét xử các bị cáo Huỳnh Văn T và Lý Minh K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sư năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội. Bản thân các bị cáo là người có khả năng nhận thức được việc chiêm đoạt trái phép tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do long tham nên vẫn cố ý thưc hiện. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm minh để răn đe, giáo duc bị cáo và phong ngừa chung trong xã hội. Khi lượng hình, xét thấy các bị cáo có sư thống nhất thưc hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng không có sư tổ chức sắp xêp, không có sư câu kêt chặt chẽ nên là đồng phạm giản đơn. Trong đó cả 02 bị cáo cùng nhau thưc hiện lấy trộm, cùng nhau bán tài sản trộm được và chia nhau tiền để tiêu xài, nên vai tro và mức độ phạm tội là tương đương nhau. Các bị cáo nhiều lần trộm cắp tài sản, mỗi lần tài sản lấy trộm đều trên 2.000.000 đồng nên các bị cáo phải chịu tình tiêt tăng nặng là phạm tội 02 lần trơ lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sư. Ngoài ra, bị cáo T có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiêt tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sư. Do đó, hình phạt đối với bị cáo T phải cao hơn so với bị cáo K. Khi lượng hình, xét thấy các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cho các bị cáo hương tình tiêt giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sư, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho từng bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên miễn phạt bổ sung.

[6] Về trách nhiệm dân sư, xử lý vật chứng: Như Kiểm sát viên nhận định và đề nghị trên đây là phù hợp, nên chấp nhận.

[7] Đối với xe mô tô biển kiểm soát 65T1-7022, qua tra cứu có số máy C12E-0526089, số khung 2268Y-017008, do ông Bùi Phi D là chủ sơ hữu, ông D đã cho con gái tên Bùi Thị Kiều M1 sử dung. Bà M1 sử dung xe và bị mất trộm vào ngày 21/12/2025, tại xã T, tỉnh Vĩnh Long. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển nguồn tin kèm theo xe mô tô biển kiểm soát 65T1-7022 đên Công an xã T, tỉnh Vĩnh Long thu lý giải quyêt theo thẩm quyền. [8] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sư sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐINH:

Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Văn T và Lý Minh K phạm tội “Trộm căp tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

- Áp dung khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; 38; 58 của Bộ luật Hình sư năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (23/12/2025).

+ Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.

- Áp dung khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; 38; 58 của Bộ luật Hình sư năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Lý Minh K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (23/12/2025).

+ Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự, xử ly vât chưng: Áp dung Điều 47; 48 của Bộ luật Hình sư năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tung hình sư năm 2015.

+Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã quyêt định xử lý vật chứng trả lại cho các bị hại Nguyễn Văn T1, Trịnh Văn S2, Trần Quang H2, Trần Văn H1 gồm xe, giấy đăng ký xe, tài sản kèm theo xong. Các bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác.

+Công nhận những người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan Nguyễn Văn V, Tăng Long T2 không có yêu cầu gì.

+Buộc các bị cáo Huỳnh Văn T và Lý Minh K có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Trần Minh Hữu N số tiền 2.500.000 đồng, mỗi bị cáo 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi ngàn đông).

+Buộc các bị cáo Huỳnh Văn T và Lý Minh K, mỗi bị cáo nộp lại tiền thu lợi bất chính 900.000 đồng (chín trăm ngàn đông) để sung ngân sách nhà nước.

+Trả lại 01 xe mô tô biển số 65F4-0337, số máy 50FMG*01513860*, số khung DR100*01010368* và 01 giấy đăng ký xe mô tô A011087 tên chủ xe Nguyễn Thành N1 cho chị Huỳnh Thị N2.

+Trả lại Huỳnh Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 màu xanh đã qua sử dung; 01 chìa khóa; 01 thẻ giữ xe Bệnh viện Y; tiền Việt Nam 3.524.000 đồng.

+Tịch thu tiêu huỷ của Huỳnh Văn T: 01 mũ bảo hiểm màu trắng có 02 chấm đỏ (trên nón có chữ Tokyo life); 01 nón kêt màu nâu chữ PRADA phía trước; 01 (một) quần jean dài màu xanh hiệu REGIS TerLD; 01 áo sơ mi tay dài màu xanh; 01 áo thun màu đen.

+Trả lại Lý Minh K: 01 điện thoại di động nhãn hiệu sam sung - Galaxy A06; màu xanh- đen, số sê ri R8YY50SJNVH; tiền Việt Nam 48.000 đồng.

+Tịch thu tiêu huỷ của Lý Minh K: 01 cây dao Thái Lan có đặc điểm dài 21,5 cm, cán bằng nhưa màu vàng dài 10 cm, lưỡi 11,5 cm; 01 mũ bảo hiểm màu xanh; 01 chiêc nón kêt vải màu xanh có chữ “M” phía trước.

+Đối với 01 biển số xe 54X2-0043 không xác định được chủ sơ hữu nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định pháp luật.

+Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra tiêp tuc tạm giữ, xác minh tìm chủ sơ hữu xe mô tô 01 Wave, màu đỏ, số khung: 1P53FMH*10462365*, số máy WTWPCHOA32W005846, để giải quyêt theo quy định pháp luật.

3. Về án phí: Áp dung Điều 136 của Bộ luật Tố tung hình sư năm 2015; Nghị quyêt số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Các bị cáo Huỳnh Văn T và Lý Minh K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đông) án phí hình sư sơ thẩm và án phí phần trách nhiệm dân sư mỗi bị cáo phải nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đông).

4. Về kháng cáo: Áp dung Điều 331, 333 Bộ luật Tố tung hình sư năm 2015;

Bị cáo, đương sư có mặt tại phiên toa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sư vắng mặt tại phiên toa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yêt theo quy định pháp luật.

5. Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sư thì người được thi hành án dân sư, người phải thi hành án dân sư có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tư nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chê thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 36 và Điều 72 của Luật thi hành dân sư; thời hiệu thi hành án được thưc hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 34 của Luật thi hành án dân sư năm 2025.

Cỡ chữ