vanban.org

Bản án 119/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Vũ Thanh H, Cao Bá Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Thanh H 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2025. Xử phạt bị cáo Cao Bá Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thanh H - Cao Bá Đạt - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Vũ Thanh H, Cao Bá Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2026/HS-ST
Ngày 11 - 3 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thiều Thị Phi Loan

2. Ông Đinh Công Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2026/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2026 đối với các bị cáo:

1/ VŨ THANH H (tên gọi khác: Không), sinh năm 2000 tại An G; Nơi đăng ký HKTT: tổ 16, ấp Kênh 4A, xã Thạnh Đ, tỉnh An G; Nơi cư trú hiện nay: Số 6A/9, tổ 9, khu phố 36, phường Long B, tỉnh Đồng N; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H2, sinh năm 1969 và con bà Nguyễn Thuý L, sinh năm 1974. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 25/10/2025, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Tân Triều, trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đồng Nai (Bị cáo có mặt).

2/ CAO BÁ Đ (tên gọi khác: Không), năm 2000 tại Khánh H; Nơi đăng ký HKTT: Thôn An Xuân 2, xã Xuân H, tỉnh Khánh H. Nơi ở: Số 27/8, tổ 8, khu phố 36, phường Long B, tỉnh Đồng N; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Hoàng T và con bà Huỳnh Minh Nh; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không

Bị tạm giữ từ ngày 25/10/2025, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Tân Triều, trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đồng Nai (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Vũ Thanh H và Cao Bá Đ là bạn bè quen biết với nhau ngoài xã hội và đều là những người nghiện chất ma tuý. Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/10/2025, Vũ Thanh H đi bộ đến khu vực đường dân sinh gần Công ty N (thuộc tổ 11, khu phố 36, phường Long B, tỉnh Đồng N) nhờ một người bạn quen biết ngoài xã hội tên Hảo (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) ma tuý đá. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, H mang theo số ma túy vừa mua được đến phòng trọ số 02 của Cao Bá Đ thuê trọ (địa chỉ: số 27/8, tổ 8, khu phố 36, phường Long Bình, tỉnh Đồng Nai). Tại đây, H rủ Đ cùng sử dụng ma túy thì Đ đồng ý, sau đó Đ lấy ra 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy (gồm: 01 chai nhựa màu trắng, 01 ống thuỷ tinh, 01 ống hút nhựa và 01 bật lửa) đưa cho H đổ ma tuý đá vào dụng cụ, còn Đ dùng bật lửa đốt nóng (nấu) ma túy rồi cùng nhau sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi H và Đ đang nằm trên gác xép cùng bộ dụng cụ sử dụng ma tuý trên thì bị Công an phường Long B kiểm tra phát hiện, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai khởi tố, điều tra xử lý.

* Vật chứng thu giữ gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm: 01 chai nhựa màu trắng, 01 ống thủy tinh, 01 ống hút nhựa và 01 bật lửa) thu giữ được của bị cáo Đ, là dụng cụ các bị cáo đã dùng để sử dụng trái phép chất ma túy

* Tại bản kết luận giám định số: 3030/KL-KTHS ngày 31/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận: “Mẫu chất màu trắng bám dính trong nỏ thuỷ tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết không xác định được khối lượng”.

* Tại bản kết luận giám định số: 3029/KL-KTHS ngày 31/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận: “Mẫu nước tiểu của Cao Bá Đ (ký hiệu M1) và Vũ Thanh H (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định có tìm thấy chất ma tuý loại Methamphetamine và sản phẩm chuyển hoá của Methamphetamine trong nước tiểu”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận giám định.

Tại bản Cáo trạng số: 234/CT-VKSKV1 ngày 02 tháng 02 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai truy tố Cao Bá Đ và Vũ Thanh H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

- khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025).

+ Xử phạt bị cáo Vũ Thanh H từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Xử phạt bị cáo Cao Bá Đ từ 03 (ba) đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 nỏ thuỷ tinh (Đã niêm phong có ký hiệu số 3030/KL-KTHS ngày 03/11/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai), 01 chai nhựa màu trắng, 01 ống hút nhựa và 01 bật lửa, là công cụ các bị cáo đã dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, không còn giá trị sử dụng.

Tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với bản cáo trạng và truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đã ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân khu vực 1 – Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 24/10/2025, tại phòng trọ số 02 (địa chỉ: 27/8, tổ 8, khu phố 36, phường Long B, tỉnh Đồng N), bị cáo Cao Bá Đ và Vũ Thanh H đã có hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, loại Methamphetamine thì bị phát hiện, khởi tố điều tra, xử lý.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025).

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai truy tố đối với các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

Vụ án có yếu tố đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ từ trước. Bị cáo H là người chuẩn bị ma túy, đồng thời là người rủ rê bị cáo Đ phạm tội và trực tiếp đưa ma túy bỏ vào dụng cụ nên giữ vai trò chính trong vụ án; Bị cáo Đ là người sử dụng phòng trọ của mình và cung cấp bộ dụng cụ để cùng bị cáo H sử dụng trái phép chất ma túy nên là đồng phạm, giữ vai trò thứ hai trong vụ án.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

Các bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).

Căn cứ vào nhân thân, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quyết định áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo. Trong đó, hình phạt đối với bị cáo H cao hơn bị cáo Đ.

Về vật chứng vụ án: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm: 01 chai nhựa màu trắng, 01 ống thủy tinh, 01 ống hút nhựa và 01 bật lửa) thu giữ được của bị cáo Đ, là dụng cụ các bị cáo đã dùng để sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về vấn đề khác:

Đối với đối tượng tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) là người đã bán ma tuý cho bị cáo H Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với bà Đàm Thị Tuyết H (sinh năm 1974, nơi đăng ký thường trú: số 59/4, khu phố 11, phường Tân H, thành phố Biên H. Nay là phường Hố N, tỉnh Đồng N) và chồng là ông Nguyễn Quốc H (sinh năm 1974, nơi đăng ký thường trú: số 27/8, tổ 8, khu phố 36, phường Long Bình, tỉnh Đồng Nai) là chủ nhà cho bị cáo Đ thuê phòng trọ số 02 để ở và không biết bị cáo sử dụng phòng trọ để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 255, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025).

Tuyên bố các bị cáo Vũ Thanh H, Cao Bá Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Thanh H 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2025.

Xử phạt bị cáo Cao Bá Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 nỏ thuỷ tinh (Đã niêm phong có ký hiệu số 3030/KL-KTHS ngày 03/11/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai)), 01 chai nhựa màu trắng, 01 ống hút nhựa và 01 bật lửa.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/02/2026 của Thi hành án dân sự khu vực 1 – Đồng Nai).

4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Vũ Thanh H, Cao Bá Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ