vanban.org

Bản án 119/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Cao Thị N được ly hôn ông Trần SC. Về con chung: Giao con chung tên là Trần Cao MT (nam), sinh ngày 07/10/2012 cho bà Cao Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Bà N không yêu cầu ông SC cấp dưỡng nuôi con chung nên …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa N-SC"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13 – CẦN THƠ
Bản án số: 119/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 3 - 2026
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Phương.

2. Ông Nguyễn Văn Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Trương Bảo Trân – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 543/2025/HNGĐ-ST, ngày 10/12/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 27/02/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 24/3/2026, về việc “Tranh chấp ly hôn”, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Cao Thị N, sinh năm 1981. (Vắng mặt)

Bị đơn: Ông Trần SC, sinh năm 1980. (Vắng mặt)

Cùng trú tại: khu vực B, phường L, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Cao Thị N trình bày:

Bà và bị đơn kết hôn năm 2006, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn năm 2003 tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (nay là Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Cần Thơ), hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.

Thời gian đầu cuộc sống hạnh phúc; sau thời gian chung sống thì phát sinh mâu thuẫn không thể hoà giải được, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung đã cố gắng hàn gắn nhưng không được nên bà và bị đơn đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Xét thấy vợ chồng không thuận hoà, hạnh phúc gia đình không đạt được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa nên nay bà xin được ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Bà và bị đơn có 02 con chung tên là Trần Cao TD (nam), sinh ngày 25/01/2006 và Trần Cao MT (nam), sinh ngày 07/10/2012. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Trần Cao MT, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con chung tên Trần Cao TD đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay do bận công việc gia đình nên bà có đơn xin được xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Trần SC đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không trình bày lời khai cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không tham dự phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Cao Thị N được ly hôn với ông Trần SC; về con chung: giao cho nguyên đơn được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Cao MT (nam), sinh ngày 07/10/2012 cho đến khi trưởng thành, bị đơn không cấp dưỡng. Đối với con chung tên Trần Cao TD đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.Về tài sản chung, nợ chung không có không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Cao Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn ông Trần SC đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về quan hệ pháp luật: Bà Cao Thị N khởi kiện xin ly hôn với ông Trần SC, đây là vụ kiện tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và ông Trần SC có nơi cư trú tại phường L, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông SC quen biết, tìm hiểu nhau một thời gian rồi đi đến hôn nhân. Ông bà được hai bên gia đình tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (nay là Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Cần Thơ), do đó hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc; nhưng thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, giữa hai vợ chồng không có tiếng nói chung, dẫn đến gia đình bất hòa, đã cố sức hàn gắn nhưng không được. Bà N và ông SC đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay, hiện tại mỗi người có một cuộc sống riêng. Nhận thấy bà N và ông SC đã không sống chung trong một thời gian dài, ông bà không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà N được ly hôn với ông SC theo quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Có 02 con chung tên là Trần Cao TD (nam), sinh ngày 25/01/2006 và Trần Cao MT (nam), sinh ngày 07/10/2012. Hiện tại con chung Trần Cao MT đang ở cùng nguyên đơn và cháu Trần Cao MT cũng có nguyện vọng được ở với nguyên đơn. Nhằm tránh gây xáo trộn cuộc sống của các cháu nên Hội đồng xét xử thống nhất giao con chung Trần Cao MT cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Bà N không yêu cầu ông SC cấp dưỡng nuôi con chung nên ông SC chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm lom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông SC không ai được quyền cản trở. Con chung Trần Cao TD đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết, không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án..

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Cao Thị N được ly hôn ông Trần SC.

Về con chung: Giao con chung tên là Trần Cao MT (nam), sinh ngày 07/10/2012 cho bà Cao Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Bà N không yêu cầu ông SC cấp dưỡng nuôi con chung nên ông SC chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm lom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông SC không ai được quyền cản trở. Đối với con chung Trần Cao TD đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết, không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Cao Thị N phải nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0011984 ngày 10/12/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 – Cần Thơ thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, được quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi cư trú.

Cỡ chữ